Buổi thao luận 4: đảm bảo thực hiện
Vấn đề 1: Đối tượng dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Câu 1: Những điểm mới
của BLDS năm 2005 so với BLDS năm 1995 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Trả lời:a
- BLDS năm 1995 liên quan
đến tài sản có thể dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự được thể hiện qua
điều 326 BLDS và 327 BLDS năm 1995:
+ Tại điều 326 BLDS năm
1995 nêu: “ Vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Vật đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của người đảm bảo và được
phép giao dịch”.
+ Điều 327 BLDS năm
1995 nêu: “Tiền ,giấy tờ trị giá được bằng tiền dùng để đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ dân sự.
1-Tiền được dùng để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự phải là Đồng Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
2-Trái phếu, kỳ phiếu
,cổ phiếu .và các giấy tờ khác trị giá được bằng tiền được phép giao dịch có
thể được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự”
- Điểm mới của BLDS năm
2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự thể
hiện ở điều 320 và điều 321 BLDS 2005.
+ Điều 320 BLDS 2005 có nêu: “Vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự
1.Vật đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên đảm bảo và được phép giao dịch.
2.Vật dùng để đảm bảo
thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương
lai.Vật được hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu
của bên đảm bảo sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch đảm bảo được
giao kết”.
+ Điều 321 có nêu: “ Tiền
,giấy tờ có giá được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tiền , trái
phiếu ,cổ phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác được dùng để đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ dân sự”
- Qua sự đối chiếu trên
thấy rằng ,vật được dùng đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự của BLDS năm 2005 cụ
thể, rõ ràng hơn, ngoài phải thuộc quyền sở hữu của bên đảm bảo và được phép
giao dịch thì phải là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật
được hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên
đảm bảo sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch đảm bảo được giao
kết. Tiền dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự được hiểu theo nghĩa rộng
hơn không bị bó hẹp là Đồng Việt Nam.
Câu 2: Đoạn nào của bán
án cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả
tiền vay?
Trả lời:
- Theo bản án số
208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh, tại trang 1
có đoạn ghi: “Ông Phạm Bá Minh trình bày :
Ông là chủ doanh nghiệp
cầm đồ Bá Minh. Vào ngày 14/9/2007bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo có
thế chấp cho ông một giấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay
60.000.000đ, thời hạn vay là 6 tháng , lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng”.
- Kết hợp với lời khai
của bị đơn: “Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo xác nhận: Có
thế chấp một tờ giấy sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000đ cho ông Phạm
Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh.Lãi suất 3%/tháng.”
Câu 3: Giấy chứng nhận
sạp có là tài sản không? Vì sao?
Trả lời:
- Xét giấy chứng nhận sạp
không phải là tài sản. Vì giấy chứng nhận sạp chỉ ghi nhận quyền được sử dụng
sạp để bà Khen buôn bán tại chợ Tân Hương, chứ cái sạp đó không thuộc quyền sở
hữu của bà Khen, bà chỉ được sử dụng chứ không có đặc quyền nào khác đối với
cái sạp, cái sạp đó không phải tài sản của bà, nên giấy chứng nhận sử dung sạp
cũng không có giá trị nên nó không phải là tài sản theo điều 163 BLDS năm 2005
giấy chứng nhận sạp không phải là giấy tờ có giá, cũng không phải là quyền tài
sản, tiền ,vật.
Câu 4: Việc dùng giấy
chứng nhận sạp để bào đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn
nào của bản án cho câu trả lời
Trả lời:
- Việc dùng giấy chứng
nhận sạp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự không được tòa án chấp nhận.
- Theo bản án số
208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh, tại trang 2
có đoạn ghi: “Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố , nhưng giấy
chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng kí sử dụng sạp, không phải quyền
sở hữu , nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án
trả tiền cho ông Minh”.
Câu 5: Suy nghĩ của
anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lí của Tòa án đối với việc dùng giấy
chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ.
Trả lời:
- Nếu theo quan điểm của
tòa án đây là vụ tranh chấp hợp đồng dịch vụ vay tiền và áp dụng các điều luật
liên quan về hợp đồng vay tài sản để giải quyết vụ việc trên là có căn cứ.
Nhưng tòa án đã không đánh mạnh vào đối tượng đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Theo quan điểm của nhóm
em căn cứ vào điều 320 BLDS năm 2005 thì vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự
phải thuộc sở hữu của bên đảm bảo nhưng như đã giải thích là cái sạp đó không
thuộc sở hữu của bà Khen, bà chỉ có quyền sử dụng nó để buôn bán, nên cái sạp
không được dùng làm vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, theo nhóm em giao
dịch dân sự trên vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật (điều pháp luật
không cho phép ) theo điều 128 BLDS là đã dùng vật không thuộc quyền sở hữu của
mình để làm vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Hơn nữa, nếu xét về
khía cạnh Tòa án chấp nhận giao dịch dân sự trên là hợp lý và đối tượng đảm bảo
thực hiện nghĩa vụ dân sự trong giao dịch là giấy tờ sử dụng sạp của bà Khen
thì đối tượng ở đây chỉ được xem xét dựa vào điều 321 BLDS: Tiền,giấy tờ có giá
dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, điều 321 quy định: “ Tiền,trái
phiếu ,cổ phiếu,kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác được dùng để đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ dân sự”. Vậy nếu ở trường hợp này tòa án chấp nhận giấy tờ sử dụng
sạp là một loại tài sản và là giấy tờ có giá thì liệu giữa khái niệm về tài sản
- “giấy tờ có giá” ở điều 163 BLDS và giấy tờ có giá ở điều 321 có được hiểu là
khác nhau không?
Câu 6: Trên cơ sở so
sánh pháp luật, suy nghĩ của anh/chị về khả năng cho phép dùng giấy tờ liên
quan đến tài sản để đảm bảo nghĩa vụ dân sự.
Trả lời:
- Tại điều 320 BLDS năm
2005: “ Điều 320.Vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự
1.Vật đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên đảm bảo và được phép giao dịch.
2.Vật dùng để đảm bảo
thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương
lai.Vật được hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu
của bên đảm bảo sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch đảm bảo được
giao kết”.
- Tại điều 322 BLDS
nêu: “…….. Và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên đảm bảm đều
được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự……………….”
- Nhưng thực tế xét xử,
cụ thể bản án số 208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí
Minh, mặc dù tòa án không công nhận bà Khen có quyền sở hữu đối với cái
sạp: “Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố , nhưng giấy
chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng kí sử dụng sạp, không phải
quyền sở hữu , nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi
hành án trả tiền cho ông Minh”.
- Nhưng tòa vẫn không nêu
rõ về việc bà Khen dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân
sự như vậy là có đúng với quy định của pháp luật hay không.Theo cách nghĩ của
nhóm em luật thì quy định như thế nhưng tòa án xét xử thoáng hơn.
Vấn đề 2: Đăng kí giao
dịch bảo đảm
Câu 1: Điểm mới của
BLDS 2005 so với BLDS 1995 về đăng ký gioa dịch bảo đảm ?
Trả lời:
- BLDS 1995 không có các
điều luật qui định về:
+ Đăng ký giao dịch bảo
đảm (Điều 323 BLDS 2005).
+ Một tài sản dùng để
bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự (Điều 324 BLDS 2005).
+ Thứ tự ưu tiên thanh
toán (Điều 325 BLDS 2005) khi sử lý tài sản bảo đảm.
Câu 2: Đoạn nào của Bản
án cho thấy một số ô tô đã được thế chấp cho Ngân hàng và ông Thiện ?
Trả lời:
- Tại bản án số
06/2012/DS-ST ngày 12/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵn trang 5, 6 có
nêu: “Để đảm bảo nợ vay của Công ty Oanh Hoàng, một số người thân của bà Tạ
Thị Kim Huệ đã dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để thế chấp cho Ngân hàng NN
& PTNT Việt Nam như: ...Công ty TNHH vận tải và dịch vụ thương mại
Oanh Hoàng đã dùng 2 bộ hồ sơ xe máy ủi bánh xích D5 và 11 bộ hồ sơ xe ô tô để
thế chấp cho ông Thiện.”
Câu 3: Thế chấp ô tô có
là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cần phải đăng ký giao dịch bảo
đảm không ?
Trả lời:
- Dựa vào Điều 320 BLDS
2005 quy định về vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, căn cứ vào khoản 1 Điều
3 Nghị định 83/2010/NĐ-CP quy định về đối tượng của các giao dịnh bảo đảm phải
đăng ký thì việc thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng thế chấp ô tô không bắt buộc
phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên giao dịch bảo đảm này vẫn được đăng
ký nếu cá nhân, tổ chức có yêu cầu (theo khoản 2 Điều 3 Nghị định
83/2010/NĐ-CP).
Câu 4: Một tài sản dùng
để thế chấp 02 nghĩa vụ dân sự như trong Bản án có phải đăng ký không ?
Trả lời:
- Không cần đăng ký giao
dịch bảo đảm với tài sản dùng để thế chấp 02 nghĩa vụ.
- Theo Điều 3 Nghị
định 83/2010/NĐ-CP, ô tô không nằm trong đối tượng buộc phải đăng ký. Việc đăng
ký tiến hành khi cá nhân, tổ chức yêu cầu.
Câu 5: Đoạn nào của Bản
án cho thấy thế chấp ô tô với Ngân hàng đã được đăng ký còn thế chấp ô tô với
ông Thiện (đã thế chấp cho Ngân hàng) không được đăng ký ?
Trả lời:
- Tại bản án số
06/2012/DS-ST ngày 12/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵn trang 6 có
nêu: “Việc thế châp này đã thực hiện theo đúng quy định về đăng ký giao dịch
bảo đảm. Do công ty Oanh Hoàng không thực hiện việc trả nợ nói trên thì các tài
sản thế chấp sẽ được phát mãi để Ngân hàng NN & PTNT Việt Nam thu hồi nợ.”
- Và tại trang 7 Bản án:
“Do việc thế chấp tài sản giữa Công ty TNHH vận tải và dịch vụ thương mại
Oanh Hoàng và ông Võ Văn Thiện không đăng ký giao dịch bảo đảm nên thứ tự ưu
tiên để thi hành án thuộc về Ngân hàng NN & PTNT Việt Nam.”
Câu 6: Trong trường hợp
biện pháp bảo đảm phải đăng ký nhưng không được đăng ký thì biện pháp bảo đảm
này có giá trị pháp lý đối với các bên trong giao dịch bảo đảm không? Vì sao?
Trả lời:
- Nếu giao dịch được pháp
luật quy định bắt buộc đăng ký giao dịch bảo đảm thì nhất định phải đăng ký
giao dịch bảo đảm, trường hợp không đăng ký biện pháp bảo đảm thì giao dịch
không có giá trị pháp lý (theo Khoản 2 Điều 323).
- Vì đăng ký giao dịch
bảo đảm theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 83/2010/NĐ-CP là việc cơ quan đăng ký
giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ
liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm. Nếu giao dịch bảo đảm không được đăng
ký tức là cơ quan đăng ký không có bất cứ dữ liệu gì để chứng minh tài sản bảo
đảm cho bên được bảo đảm, làm mất quyền lợi của bên nhận, mất tính công bằng
trong giao dịch.
Câu 7: Tòa án đã xử lý
tài sản (ô tô) đã thế chấp cho Ngân hàng và ông Thiện như thế nào?
Trả lời:
- Tại bản án số
06/2012/DS-ST ngày 12/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵn trang 8, 9,
phần 2 của Quyết định: “2. Nếu Công ty vận tải và dịch vụ thương mại Oanh
Hoàng không thanh toán được nợ thì các tài sản thế chấp sau: .... Sau khi Ngân
hàng NN & PTNT Việt Nam thu hồi nợ xong, ongo Thiện có quyền yêu cầu phát
mãi trong các tài sản nói trên và các tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của
Công ty TNHH vận tải và dịch vụ thương mại Oanh Hoàng để thu hồi nợ.”
- Do việc thế chấp ô tô
với Ngân hàng đã được đăng ký còn thế chấp ô tô với ông Thiện thì chưa đăng ký
vì vậy căn cứ theo khoản 2 điều 325 BLDS thì thứ tự ưu tiên để thanh toán sẽ
thuộc về Ngân hàng. Và nếu giá trị tài sản thế chấp vẫn còn lại thì sẽ được
thanh toán cho ông Thiện.
Câu 8: Suy nghĩ của
anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa án?
Trả lời:
- Toà án xử lý vẫn chưa
hoàn toàn thoả đáng.
+ Thứ nhất, Tòa án không xem xét khía cạnh Công ty Oanh Hoàng có vi phạm hợp
đồng với ông Võ Văn Thiện hay không, khi mà Công ty Oanh Hoàng có thông báo
bằng văn bản cho ông Thiện biết về việc tài sản bảo đảm đang dùng để bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ khác hay không (theo khoản 2 Điều 324 BLDS 2005). Và giá trị
tài sản thế chấp được dùng để bảo đảm có giá trị tại thời điểm xác lập giao
dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm hay không trừ trường
hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (theo khoản 1 Điều 324
BLDS 2005).
+ Thứ hai, căn cứ theo khoản 2 điều 3 Nghị định 83/2010/NĐ-CP, và điều 325 BLDS
thì luật không bắt buộc giao dịch của Công ty Oanh Hoàng và ông Thiện phải đăng
ký, tuy nhiên vì chính việc không đăng ký đó lại làm ảnh hưởng đến quyền lợi
được thanh toán của ông Thiện.
Vấn đề 3: Đặt cọc.
Câu 1: Khác biệt cơ bản
giữa đặt cọc và cầm cố, đặt cọc và thế chấp.
Trả lời:
Đặt
cọc và cầm cố:
- Điều 326 BLDS: cầm
cố là việc giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Điều 358 BLDS: Đặt
cọc là việc giao tài sản cho bên kia để bảo đảm giao kết hoặc
thực hiện hợp đồng dân sự.
Đặt cọc và thế chấp:
- Điều 358 BLDS: Đặt
cọc là việc giao tài sản cho bên kia để bảo đảm giao kết hoặc thực
hiện hợp đồng dân sự.
- Điều 342 BLDS: Thế
chấp là việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.
Như vậy có thể nói là cầm cố và thế chấp thì không cần phải
giao tài sản của mình cho bên kia còn việc đặt cọc thì tài sản phải
được giao cho bên kia và sau khi thực hiện nghĩa vụ thì tài sản có
thể được trả lại cho bên đặt cọc hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ.
Câu 2: Theo BLDS, khi
nào bên đặt cọc mất cọc, bên nhận cọc bị phạt cọc?
Trả lời:
- Khi các bên đã đặt cọc
nhưng không thực hiện giao kết, hậu quả pháp lý được quy định tại Điều 358 Bộ
luật Dân sự như sau: “Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện
hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt
cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự phải trả cho bên đặt cọc
tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác”.
Câu 3: Theo Quyết định
được bình luận, khi nào bên nhận cọc (bà Hạnh) bị phạt cọc?
Trả lời:
- Theo quyết định của
bản án thì bà Hạnh bên nhận cọc bị phạt cọc là trường hợp (chủ
quan): nếu có căn cứ xác định do bà Hạnh chậm trễ hoàn tất các thủ
tục để được sang tên quyền sử hữu thì lỗi hoàn toàn thuộc về bà
Hạnh và bà Hạnh mới phải chịu phạt tiền cọc.
Câu 4: Theo Quyết định
được bình luận, khi nào bên nhận cọc không bị phạt cọc?
Trả lời:
- Theo quyết định của
bản án thì bà Hạnh bên nhận cọc ko bị phạt cọc là trường hợp
(khách quan): khi có căn cứ xác định cơ quan thi hành án dân sự chậm
trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà Hạnh thì lỗi dẫn tới việc
bà Hạnh ko thể thực hiện đúng cam kết với ông Lộc thuộc về khách
quan.
Câu 5: Hệ quả của việc
bên nhận cọc không bị phạt cọc?
Trả lời:
- Quyết định trên của toà
án gây chậm trễ cho bên đặt cọc (ông Lộc).
Câu 6: Suy nghĩ của
anh/chị về hướng giải quyết của Toà GĐT về xử lý tài sản đặt cọc.
Trả lời:
- Việc Toà GĐT xem xét
đến vấn đề lý do chậm trễ của bà Hạnh là chủ quan hay khách quan là hợp lý. Bởi
mặc dù Luật có quy định về việc phạt cọc khi bên đặt cọc chậm trễ nhưng nếu lỗi
chậm trễ là do ở cơ quan chức năng và bà Hạnh không lường trước được thì việc
quy lỗi và buộc bà Hạnh phải chịu phạt cọc là mang tính quá rập khuôn. Mặt khác
2.000.000.000 đồng cũng là một số tiền rất lớn.
Vấn đề 4: Bảo lãnh.
Câu 1: Những đặc trưng của
bảo lãnh.
Trả lời:
- Bảo lãnh là một trong
các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được ưa chuộng trong lĩnh vực họat
động thương mại do tính hiệu quả của biện pháp này. Bản chất của bảo lãnh là
việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản của một bên thứ ba thay vì bằng
tài sản của bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính như đối với các biện
pháp bảo đảm đối vật. Như vậy, trong một quan hệ nghĩa vụ mà nghĩa vụ được bảo
đảm bằng biện pháp bảo lãnh, bên có quyền có hai chủ thể để có thể thực hiện
quyền yêu cầu của mình, đó là bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) và bên bảo
lãnh.
thực
tế, nghĩa vụ được bảo lãnh luôn là nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, hay nói cách
khác, vị thế của người bảo lãnh dưới mắt chủ nợ luôn trong tư thế là một “con
nợ” dự phòng. Điều này có nghĩa, chỉ khi nào bên được bảo lãnh không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh mới có quyền
yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay. Quy tắc này không được thể hiện
rõ nét trong cả BLDS năm 1995 (Điều 366, Khoản 1) và BLDS năm 2005. Theo Điều
361 của BLDS năm 2005 thì “bảo lãnh là việc người
thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là
bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi
là bên được bảo lãnh), nếu kh i
đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực
hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình”. BLDS năm 1995 cũng quy định tương tự. Điều này có nghĩa, trong
trường hợp không có thỏa thuận gì đặc biệt, nếu nghĩa vụ đã đến hạn thực hiện
mà người có nghĩa vụ không thực hiện dù đã có yêu cầu thì, bên nhận bảo lãnh
ngay lập tức có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay dù cho
bên được bảo lãnh vẫn có khả năng mà chưa kịp hay không muốn thực hiện nghĩa vụ
của mình. Quy định này đã gián tiếp không thừa nhận tính chất “dự bị” về vai
trò của bên bảo lãnh trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh.
Điều đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết các hệ quả phát sinh
trong trường hợp bên được bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản.
Câu 2: Đoạn nào cho
thấy Toà án địa phương đã theo hướng người bảo lãnh và người được bảo lãnh liên
đới thực hiện nghĩa vụ cho người có quyền?
Trả lời:
- Tại trang 4 của quyết
định số 968/2011/ DS-GĐT ngày 27/12/2011 của Tòa Dân sự tòa án nhân dân tối cao
có đoạn: “Chấp nhận yêu cầu của bà…700.100.000đồng”.
Câu 3: Hướng liên đới
trên có được Toà GĐT chấp nhận không?
Trả lời:
- Tòa giám đốc thẩm
không chấp nhận.
Câu 4: Suy nghĩ của
anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà giám đốc thẩm.
Trả lời:
- Cách giải quyết trên
của tòa giám đốc thẩm là đúng pháp luật vì cần phải xác định rõ
khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của bà Mát.
Câu 5: Phân biệt thời
điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh và thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Trả lời:
- Thời điểm phát sinh
nghĩa vụ bảo lãnh là thời điểm cam kết.
- Thời điểm có hiệu
lực là thời điểm theo luật định.
Câu 6: Theo BLDS, khi
nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?
Trả lời:
- Theo điều 365 BLDS
thì trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng chi trả hoặc
chỉ trả một phần thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ.
Câu 7: Theo Quyết định,
khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?
Trả lời:
- Theo Quyết định, toà án
cho rằng cần phải xác định nếu bà Mát không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dân
sự hoặc chỉ có thể thực hiện một phần, thì khi đó bà Thắng (bên bảo lãnh) mới
phải có trách nhiệm thực hiện thay.
Câu 8: Có bản án, quyết
định nào theo hướng giải quyết trên về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh có
tiền lệ chưa? Nêu rõ bản án, quyết định mà anh/chị biết.
Trả lời:
- Trong Quyết định số
01/2010/DS-GĐT ngày 06-01-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
chị Thảo vay tiền của ông Sang và ông Lộc, bà Phục bảo lãnh khoản tiền vay. Hội
đồng thẩm phán quyết định rằng nếu chị Thảo không trả được nợ gốc và lãi thì
ông Lộc, bà Phục có trách nhiệm trả thay.
- Trong Quyết định số
376/2011/DS-GĐT ngày 20/5/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, anh Sơn
là chồng chị Phượng, vay tiền và việc vay này được cho là có bảo lãnh của ông
Be. Tòa dân sự cũng theo hướng sử dụng thời điểm bên có nghĩa vụ không có khả
năng thực hiện nghĩa vụ.
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^