Buồi thảo luận 5: Trách nhiệm dân sự, vi phạm HĐ

Buồi thảo luận 5: Trách nhiệm dân sự, vi phạm HĐ

Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng gây ra
Câu 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam?
Theo Điều 281[1] Bộ luật dân sự (sau đây gọi tắt là BLDS) có quy định về “hợp đồng dân sự” chính là một căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, “không thực hiện đúng hợp đồng cũng là không thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự. Vì vậy, các quy định về trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự (trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại) được áp dụng đối với việc không thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng”
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên, do đó bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại mà mình đã gây ra cho phía bên kia tương ứng với mức độ lỗi của mình”[2] Từ đó, ta có thể hiểu các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng: Có thể hiểu là việc một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng. Việc xác định hành vi nào được xem là vi phạm hợp đồng phụ thuộc vào việc giải thích hợp đồng và các quy định pháp luật có liên quan.
- Có thiệt hại xảy ra: thiệt hại là toàn bộ những tổn thất gây ra cho một bên, do việc vi phạm hợp đồng của bên kia.
- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng với thiệt hại thực tế xảy ra: hành vi vi phạm hợp đồng phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại thực tế xảy ra.
- Phải có lỗi của bên vi phạm: Lỗi là trạng thái tâm lí của một bên trong hợp đồng về nhận thức của họ đối với hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là lỗi suy đoán.
Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường theo pháp luật Việt Nam (trên cơ sở so sánh với pháp luật nước ngoài)?
Đối với pháp luật Việt Nam, Luật thương mại (sau đây gọi tắt là LTM) quy định rất rõ các căn cứ (điều kiện) phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Cụ thể, theo điều Điều 303 Luật thương mại năm 2005: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2. Có thiệt hại thực tế;
3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”.
Trong BLDS 2005 có những quy định chung về hợp đồng (Điều 388 và tiếp theo) nhưng không có quy định cụ thể về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Tuy nhiên, qua Điều 302 BLDS và Điều 307 BLDS, có thể suy ra rằng để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải có thiệt hại thực tế xảy ra. Riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, điều 604 có quy định như sau:
“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”
Qua đó có thể thấy LTM 2005 quy định rất rõ về các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng nhưng trong BLDS không nói rõ ràng để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thì phải có những điều kiện nào.
Đối với pháp luật nước ngoài: Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại khoản 1 Điều 9:501 theo đó “bên có quyền được yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại do việc không thực hiện đúng hợp đồng gây ra khi bên có nghĩa vụ không được hưởng trường hợp miễn trừ được quy định tại Điều 8:108”
Câu 3: Tòa án đã buộc Bitexco bồi thường cho bà Bình những khoản thiệt hại nào? Nêu rõ đoạn của bản án liên quan đến từng khoản thiệt hại được bồi thường.
Tòa án buộc Bitexco bồi thường cho bà Bình khoản tiền tương đương giá trị căn hộ theo giá của Hội đồng định giá và thiệt hại tiền thuê nhà.
 Trong bản án số 11/2010/DS-ST ngày 27/4/2010 tại trang số 09 có đoạn như sau:
“như đã phân tích tại phần trên bà Bình không vi phạm nghĩa vụ thanh toán, việc buộc công ty Bitexco phải bồi thường giá trị căn hộ theo giá của Hội đồng định giá là cũng đảm bảo quyền lợi của bà Bình nên có căn cứ được chấp nhận”.
Cũng trong bản án nêu trên, tại trang số 10-11 có đoạn như sau:
“việc bà Bình đi thuê nhà ở là có thực và đây là thiệt hại thực tế, bà Bình không có vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu của Bình buộc công ty Bitexco phải bồi thường khoản tiền mà bà Bình đã thanh toán tiền thuê nhà 22.000 Đô la Mỹ tương đương 418.000.000 đồng (Tỷ giá đô la Mỹ ngày 27/04/2010 là 19.000đ/01USD), trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có căn cứ được chấp nhận.”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.
Theo em, hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý. Thứ nhất Bixtexco yêu cầu huỷ hợp đồng mua bán căn hộ AE 305 là không có căn cứ xác đáng vì theo như nhận định và căn cứ đưa ra trước Tòa, bà Bình không có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Thứ hai là “phía công ty Bitexco, bà Bình và Ngân hàng ngoại thương Việt Nam cùng thống nhất hủy hợp đồng” Việc Tòa án buộc công ty Bitexco phải bồi thường giá trị căn hộ theo giá của Hội đồng định giá đã giúp bà Bình đảm bảo quyền lợi của mình trong tranh chấp, việc hủy hợp đồng mua bán là phù hợp nên khoản bồi thường là hợp lý căn cứ theo Khoản 2 Điều 307.[3]
Đối với khoản thiệt hại về tiền thuê nhà, hướng giải quyết của Tòa án cũng là hợp lý. Dù khoản thiệt hại này xuất hiện trước khi có hành vi hủy hợp đồng và theo người bảo vệ cho nguyên đơn thì hợp đồng thuê không được chứng thực và giá thuê bà Bình không thông báo cho Bitexco tuy nhiên trên bà Bình có cung cấp hợp đồng thuê nhà và biên nhận tiền thuê nhà nên đây là những thiệt hại thực tế mà bà Bình chịu tổn thất, là khoản thu nhập bị giảm sút của bà Bình do hợp đồng không tiếp tục được thực hiện nên khoản tiền phải được đền bù.
Câu 5: Đoạn nào cho thấy bà Bình có yêu cầu bồi thường tổn thát về tinh thần?
  Trong bản án số 11/2010/DS-ST ngày 27/4/2010 tại trang số 12 có đoạn như sau:
 “và bồi thường thiệt hại tinh thần do chất lượng căn hộ không bảo đảm gây ảnh hưởng về tâm lý là 16.000.000 đồng”.
Câu 6: Tổn thất về tinh thần có tồn tại trong lĩnh vực hợp đồng không? Vì sao?
Thực ra, tổn thất về tinh thần hoàn toàn có thể tồn tại xuất phát từ việc không thực hiện đúng hợp đồng. Bộ Luật dân sự quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm cả thiệt hại về vật chất lẫn thiệt hại về tinh thần (Điều 307 BLDS). Quy định này áp dụng cho nghĩa vụ dân sự nói chung nên cũng được áp dụng cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.
Luật Thương mại 2005 điều chỉnh về hợp đồng có quy định về vấn đề thiệt hại được bồi thường, theo đó phải có “thiệt hại thực tế”, tức là có thể không chỉ có thiệt hại vật chất mà còn có cả thiệt hại tinh thần.
Như vậy, nhìn từ góc độ văn bản, tổn thất về tinh thần có tồn tại trong lĩnh vực hợp đồng cũng được bồi thường và thực tiễn cùng theo hướng này. VD: “Tiền bồi thường về tổn hại sức khoẻ là 19.460.000 (mười chin triệu bốn trăm sau mươi ngàn đồng) và bù đắp thiệt hại tinh thần với số tiền là 30.000.000 (ba mươi triệu) tương ứng với thương tật 16% vĩnh viễn là có cơ sở chấp nhận”[4]
Câu 7: Văn bản hiện hành có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do không thực hiện đúng hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Luật Thương mại năm 2005 có quy định bồi thường thiệt hại về tinh thần phát sinh khi không thực hiện đúng hợp đồng. Căn cứ Điều 302 LTM quy định “Bồi thường thiệt hại” như sau:
“1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”.
Đối với Bộ Luật dân sự, hiện vẫn chưa có quy định về vấn đề này.
Vấn đề 2: Phạt vi phạm hợp đồng
Câu 1:  Điểm mới của BLDS năm 2005 so với BLDS năm 1995 về phạt vi phạm hợp đồng.
- Về tính chất: Phạt vi phạm không còn được xem là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nữa, mà là một nội dung của hợp đồng (Khoản 1 Điều 422 BLDS năm 2005)
- Vê mức phạt vi phạm: hoàn toàn do các bên thỏa thuận, không bị giới hạn như trong Điều 378 BLDS 1995, mức phạt bị giới hạn là 5% giá trị hợp đồng.
- Về quyền lựa chọn phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại: các bên có thể thoả thuận phạt vi phạm là một khoản tiền và có hoặc không bồi thường thiệt hại.
* Đối với vụ việc thứ nhất
Câu 2: Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng?
- Về đối tượng thực hiện: là khoản tiền buộc phải nộp cho một bên.
- Về hình thức: đều được lập thành văn bản.
- Về hậu quả pháp lý: bên vi phạm bị mất một khoản tiền (mức phạt vi phạm hoặc phạt cọc), và không căn cứ vào thiệt hại thực tế.
Câu 3: Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?
Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc. Phù hợp với khoản 7 điều 292 LTM và Điều 358 BLDS. Việc đặt cọc này là việc đảm bảo cho việc thực hiện Hợp đồng.
Trong bán án 121/2010/KDTN-PT ngày 26/12/2011 có đoạn “Vì theo khoản 3 Điều 4 Hợp đồng kinh tế số 01-10/TL-TV ngày 01/10/2010 các bên đã thoã thuận: Ngay sau khi ký kết hợp đồng, bên mua (Công ty Tân Việt) phải thanh toán trước cho bên bán (Công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng là tiền đặt cọc”
“…Do vậy số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng) được xác định là tiền đặt cọc”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%?
Theo em, cách giải quyết của Tòa án là chưa hợp lí và thiếu thống nhất trong cách giải quyết. Về khoản tiền trả trước 30%, Tòa án đã xác định đây là tiền đặt cọc dựa trên khoản 7 Điều 292 Luật Thương mại và Điều 358 Bộ luật Dân sự. Khoản tiền này dùng để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, sau đó Tòa án lại nhận định rằng 2 bên đã đi vào thực hiện hợp đồng cho nên khoản tiền 30% đươc xác định là khoản tiền dùng để thưc hiện đơt giao hàng lần thứ nhất dẫn đến viêc Tòa án bác bỏ kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bồi thường khoản tiền này với căn cứ là Khoản 2 Điều 358 BLDS. Cách giải quyết nhiều mâu thuẫn như trên của Tòa án đã khiến quyền và lợi ích họp pháp của nguyên đơn không được đảm bảo.
* Đối với vụ việc thứ hai
Câu 1: Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn như thế nào?
Trong Quyết định của Trọng Tài tại trang số 2 có đoạn như sau:
“mức phạt Hợp đồng 30% giá trị của hợp đồng là cao so với quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật Thương mại quy định mức phạt hợp đồng không quá 8% giá trị của Hợp đồng, do vậy Bị đơn sẽ chỉ phải thanh toán cho nguyên đơn khoản tiền phạt theo luật là 8% giá trị của Hợp đồng”
Ta thấy, trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn theo Điều 301[5] LTM chứ không theo hợp đồng. Như vậy, trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn là không quá 8%  giá trị của hợp đồng.
Câu 2: So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định có thuyết phục không? Vì sao?
So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định có thuyết phục. Trước hết, Tòa đã dựa vào Điều 301 LTM Việt Nam 2005 quy định về “mức phạt vi phạm”.
Tuy nhiên vì mức thỏa thuận cao hơn nên Tòa lấy mức phạt 8% giá trị của Hợp đồng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho bên vi phạm. Mặc dù khoản 2 Điều 422 BLDS 2005 có quy định: “Mức phạt vi phạm do các bên quy định.” nhưng mức phạt như trong thoả thuận là quá cao. Quy định về mức phạt trong BLDS để cho thấy các bên được tự do về mức phạt còn việc viện dẫn Luật thương mại cho thấy các bên bị giới hạn trong việc định đoạt mức phạt. Do vậy, LTM được ưu tiên hơn.
Vậy, theo LTM thì mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định là đúng pháp luật, thuyết phục.Tuy nhiên, căn cứ theo Khoản 2 Điều 422 BLDS quy định “Thực hiện hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm” như sau: “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận”; thì Quyết định này lại trái với quy định trong pháp luật dân sự.
Câu 3: Trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trong pháp luật dân sự thì phạt vi phạm hợp đồng không được kết hợp bồi thường thiệt hại nếu các bên có không có thoả thuận về vấn đề này.
+ Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 422 BLDS 2005.[6]
Theo pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng có quyền được kết hợp với bồi thường thiệt hại nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này.
+ Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 307 LTM 2005[7]
Câu 4: Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm được kết hợp với bồi thường thiệt hại. Trong Phán Quyết Trọng tài tại trang số 2 có đoạn như sau:
“Tuy nhiên, Điều 301 Luật Thương mại cũng quy định ngoài mức phạt như trên, bên bị thiệt hại có quyền đòi bồi thường thiệt hại thực tế. Do các bên đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại…HĐTT cho rằng có thể xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên đơn, song tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao quá 30% giá trị hợp đồng”.
Câu 5: Điểm giống và khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng.

Phạt hợp đồng
Bồi thường thiệt hại
Khác nhau
Cơ sở để áp dụng
- Phải có sự thỏa thuận của các chủ thể về việc áp dụng biện pháp phạt hợp đồng.
- Không cần có thiệt hại do hành vi vi phạm cũng có thể áp dụng
-Không cần có sự thỏa thuận.

- Biện pháp này sẽ được áp dụng khi có hành vi vi phạm gây ra thiệt hại cho chủ thể bị vi phạm trên thực tế.

Mục đích chủ yếu
Ngăn ngừa vi phạm.
Khắc phục hậu quả thiệt hại do vi phạm.
Mức độ thiệt hại về vật chất của người bị áp dụng
Do thỏa thuận của các bên. Tối đa không quá 5% - 8% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm.
Tùy theo mức độ thiệt hại. Thiệt hại được tính bao gồm cả thiệt hại thực tế và trực tiếp do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra, những khoản lợi mà người bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Giống nhau
Là biện pháp chế tài mà luật dân sự quy định để áp dụng cho các trường hợp vi phạm hợp đồng, cơ sở để áp dụng 2 biện pháp này là phải có hành vi vi phạm hợp đồng trên thực tế và phải có lỗi của bên vi phạm. Mục đích của việc quy định cũng như áp dụng biện pháp này là nhằm ngăn ngừa sự vi phạm hợp đồng.

Câu 6: Theo văn bản, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm hợp đồng với bồi thường thiệt hại có bị giới hạn không? Vì sao?
Theo văn bản, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm với bồi thường thiệt hại có bị giới hạn. Vì:
Căn cứ Khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại 2005 quy định về “Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại” như sau:
“2. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.
Ta thấy LTM có quy định mức vi phạm do các bên thỏa thuận, nghĩa là pháp luật đã giới hạn mức phạt chính bằng mức mà các bên thỏa thuận.
Câu 7: Theo Quyết định trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm với bồi thường thiệt hại có bị giới hạn không? Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trong Quyết định về vấn đề này.
Trong Quyết định trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có bị giới hạn.
Trong Phán Quyết Trọng tài tại trang số 2 có đoạn như sau:
“Tuy nhiên, Điều 301 luật thương mại cũng quy định ngoài mức phạt như trên, bên thiệt hại có quyền đòi bồi thường thiệt hại thực tế. Do các bên đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại tối đa là 30% tổng giá trị hợp đồng, nên việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ tạo ra bất ngờ cho Bị đơn. HĐTT cho rằng có thể xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên đơn, song tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao quá 30% giá trị hợp đồng”.
Hướng giải quyết của Tòa khá thuyết phục, đảm bảo quyền lợi của bên bị vi phạm, phù hợp với các điều khoản được nêu trên. Tòa tôn trọng quyền tự do quyết định trong giao kết hợp đồng, quyền thỏa thuận vi phạm hợp đồng và Tòa đã xem xét để đúng với quy định của pháp luật.
Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về khả năng Tòa án được quyền giảm mức phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam.
Việc viện dẫn một lúc hai văn bản về mức vi phạm này rất khó hiểu. Biện pháp phạt vi phạm được thiết lập vì lợi ích của bên bị vi phạm do đó bên bị vi phạm lựa chọn hay kết hợp với bồi thường thiệt hại để đảm bảo quyền lợi của mình. Tuy nhiên, mức phạt đó phải không quá mức thỏa thuận. Việc Tòa án áp dụng hai chế tài này là phù hợp, quyền lợi bên bị vi phạm được bảo vệ. Xong, vấn đề đặt ra là nên áp dụng văn bản nào để thuyết phuc, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, Tòa đã áp dung văn bản là Luật thương mại. Theo em nghĩ, hướng giải quyết của Tòa là phù hợp vì không những đảm bảo quyền lời của bên bị vi phạm mà đảm bảo quyền của bên vi pham.
Vấn đề 3: Sự kiện bất khả kháng
Câu 1: Những điều kiện để một sự kiện được coi là bất khả kháng? Và cho biết các bên có thể thoả thuận với nhau về trường hợp có sự kiện bất khả kháng không? Nêu rõ cơ sở khi trả lời.
Những điều kiện để một sự kiện được coi là bất khả kháng là:
Thứ nhất, đây phải là “sự kiện xảy ra một cách khách quan”. Bộ luật dân sự không cho biết cần hiểu yếu tố khách quan như thế nào nhưng thông thường yếu tố khách quan này được đánh giá trong mối quan hệ với bên thực hiện hợp đồng. Để được coi là sự kiện xảy ra một cách khách quan thì sự kiện này phải vượt qua sự kiểm soát của bên phải thực hiện hợp đồng và như vậy đây có thể là sự kiện tự nhiên như thiên tai nhưng cũng có thể do con người gây ra như hành động của người thứ ba.
Thứ hai, đây phải là sự kiện “không thể lường trước được”. Về thời điểm không lường trước được, Bộ luật dân sự chúng ta không rõ nhưng một số hệ thống pháp luật như Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng theo hướng sự lường trước được hay không lường trước được xác định ở “thời điểm giao kết hợp đồng”
Thứ ba, sự kiện xảy ra “không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”.
Trong thực tế không hiếm có trường hợp các bên có thoả thuận về sự kiện bất khả kháng[8] và văn bản hiện hành của chúng ta chưa rõ về chủ đề này nhưng trên cơ sở nguyên tắc tự do cam kết, thoả thuận (Điều 4 Bộ luật dân sự) thì chúng ta nên chấp nhận loại thoả thuận này.
Câu 2: Những hệ quả pháp lý trong trường hợp hợp đồng không thể thực hiện do sự kiện bất khả kháng trong BLDS và Luật thương mại sửa đổi.
Căn cứ theo Điểm b Khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại 2005 quy định “Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm” thì trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm.
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 302 BLDS quy định “trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự” như sau:
“2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”,
Khoản 3 Điều 546 BLDS quy định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại” trong Hợp đồng vận chuyển tài sản như sau:
“3. Trong trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất mát, hư hỏng hoặc bị hủy hoại trong quá trình vận chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Câu 3: Số hàng trên có bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng không? Phân tích các điều kiện hình thành sự kiện bất khả kháng với tình huống trên.
Số hàng trên có bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng hay không chúng ta cần xem xét và phân tích các điều kiện hình thành sự kiện bất khả kháng.
-          Thoả mãn điều kiện thứ nhất: Tàu bị gió nhấn chìm dẫn đến hỏng toàn bộ tài sản ta thấy “gió thổi” ở đây là một sự kiện xảy ra một cách khách quan.
-          Thoả mãn điều kiện thứ hai: Đây là sự kiện “không thể lường trước được” do thế giới khách quan tác đông diễn ra ngoài ý chí chủ quan của con người.
-          Thoả mãn điều kiện thứ ba: Tàu chìm làm hàng hư hỏng toàn bộ có thật sự “Không thể khắc phục được” tuy bản án cũng không nói rõ.
Dựa vào những phân tích trên, theo em, sự kiện này là sự kiện bất khả kháng.
Câu 4: Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, anh Văn có phải bồi thường cho anh Bình về việc hàng bị hư hỏng không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, anh Văn không phải bồi thường cho anh Bình về việc hàng bị hư hỏng.
Cơ sở pháp lý cho câu trả lời:
Khoản 2 Điều 302 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
Khoản 3 Điều 546 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất mát, hư hỏng hoặc bị huỷ hoại trong quá trình vận chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
Khoản 1 Điều 20 Nghị định 125/2003/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2003 về vận tải đa phương thức quốc tế quy định: “Điều 20. Miễn trừ trách nhiệm. Mặc dù có quy định tại khoản 1 Điều 16, khoản 1 và khoản 4 Điều 18 Nghị định này, người kinh doanh vận tải đa phương thức không phải chịu trách nhiệm về mất mát, hư hỏng hoặc giao trả hàng chậm đối với hàng hoá được vận chuyển nếu chứng minh được việc gây nên mất mát, hư hỏng hoặc giao trả hàng chậm trong quá trình vận chuyển là do một hoặc nhiều nguyên nhân sau đây: 1. Bất khả kháng;”.
Câu 5: Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng và anh Văn thỏa thuận bồi thường cho anh Bình giá trị hàng bị hư hỏng thì anh Văn có được yêu cầu Công ty bảo hiểm thanh toán khoản tiền này không? Tìm câu trả lời nhìn từ góc độ văn bản và thực tiễn xét xử.
Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng và anh Văn thỏa thuận bồithường cho anh Bình giá trị hàng bị hư hỏng thì anh Văn được yêu cầu Công ty bảo hiểm thanh toán khoản tiền này.
Cơ sở pháp lí:
Điều 580 BLDS 2005 quy định:
“1. Trong trường hợp bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật thì bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm hoặc cho người thứ ba theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm đối với thiệt hại mà bên mua bảo hiểm đã gây ra cho người thứ ba theo mức bảo hiểm đã thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm đã bồi thường thiệt hại cho người thứ ba thì có quyền yêu cầu bên bảo hiểm phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã trả cho người thứ ba, nhưng không vượt quá mức trả bảo hiểm mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật đã quy định.”
Tuy vậy, thực tiễn xét xử vấn đề này có hai quan điểm trái ngược nhau. Cụ thể được nêu tại hai bản án sau:
+ Bản án thứ nhất được tóm tắt như sau:
Anh Lê Văn Khen nhận chở thuê hàng bằng đường thủy. Anh Khen có mua bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho việc vận chuyển bằng tàu của mình. Trên đường vận chuyển, tàu bị gió lốc nhấn chìm và gây thiệt hại đến tài sản hàng hóa. Trong hợp đồng nhận chuyển hàng, anh Khen thỏa thuận chịu trách nhiệm trường hợp này và đã bồi thường cho chủ hàng anh chở thuê số tiền 40.950.000 đồng. Nay anh yêu cầu công tuy Bảo Việt Trà Vinh phải bồi hoàn lại cho anh mà anh thay Công ty bồi thường cho các chủ hàng anh chở thuê. Tại bán án này, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh khẳng định việc gây thiệt hại cho các chủ hàng là do hiện tượng bất khả kháng. Nhưng theo Tòa, anh Khen tự nguyện nhận bồi thường nên anh phải gánh chiu hậu quả.[9]
+ Bản án thứ hai được tóm tắt như sau:
Ông Khóm nhận chuyển 2.600 con vịt cho ông Điền và ông Trình bằng tàu của ông. Ông khóm tham gia bảo hiểm dân sự của chủ tàu và trong hợp đồng có nêu rõ điều kiện bảo hiểm dân sự của chủ tàu, thuyền. Theo phạm vitrách nhiệm bảo hiểm thì Bảo Việt nhận trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa, tài sản chuyên chở trên tàu, thuyền được bảo hiểm. Trên đường vận chuyển, do mưa gió to, nước chảy mạnh, tàu va vào chân cầu bị chìm làm tổn thất trị giá đến 79.100.000 đồng số tiền vịt. Vì ông Khóm thỏa thuận trong hợp đồng với ông Trình ông Điền nên đã bồi thường số tiền trên. Nay ông Khóm yêu cầu Bảo Việt hoàn trả ông số tiền nói trên. Về vụ việc trên, theo Tòa vì các bên có nêu rõ trong hợp đồng bảo hiểm nói trên và theo Điều 546 BLDS 2005 vẫn cho phép người vận chuyển và bên thuê vận chuyển được thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngay cả trong trường hợp bất khả kháng. Do đó, thỏa thuận giữa ông Khóm và ông Trình, ông Điền là không trái pháp luật, có hiệu lực và ràng buộc cả Bảo Việt An Giang. Mặt dù Bảo Việt cho rằng theo Điều 30 Thể lệ vận chuyển và xếp dỡ hàng hóa thủy nội địa thì bên vận chuyển được miễn bồi thường trong trường hợp thiên tai, địch họa hay bất khả kháng. Hơn thế nữa, theo Tòa cho thấy thế mạnh thuộc về bên Bảo Việt và các thuật ngữ hay giải thích trong hợp đồng phải có lợi cho bên yếu thế. (Theo khoản 8 Điều 409 quy định: “Trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế.”). Do đó, Bảo Việt phải có trách nhiệm bảo hiểm cho ông Khóm.[10]
Thiết nghĩ, để uy tín trong các quan hệ tương tự như trên, tốt hơn hết các bên nên nêu rõ trong hợp đồng bảo hiểm là có hay không bảo hiểm trong trường hợp thiệt hại do sự kiện bất khả kháng.
Vấn đề 4: Tìm kiếm bản án liên quan đến chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán

1. Tìm ít nhất 01 bản án (quyết định) của Tòa án liên quan đến chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1137/2014/DS-PT
Ngày: 08/9/2014
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản             
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:             Ông Nguyễn Chí Cao
Các thẩm phán:                                       1. Bà Lê Thị Hồng Hạnh
                                                                2. Bà Lê Thị Nhanh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Đình Tiến – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Kiền – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04 và 08 tháng 9 năm 2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 387/2014/TLPT-DS ngày 18 tháng 7 năm 2014 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 69/2014/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2014 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2417/2014/QĐPT–DS ngày 11 tháng 8 năm 2014, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Mai Ngọc Hằng, sinh năm 1968.
Cư trú tại nhà số 160/4F đường Trần Kế Xương, Phường 7, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Bị đơn: Bà Mai Hồng Thắm, sinh năm 1979.
Cư trú tại nhà số 550/27/1 đường Huỳnh Tấn Phát, Ấp 3, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng, sinh năm 1960. Cư trú tại nhà số 363/20A đường Huỳnh Tấn Phát, Khu phố 7, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 17/01/2012) (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:                     
1.                  Ông Ngô Hoàng Tâm (chồng nguyên đơn), sinh năm 1967 (có mặt).
Có cùng nơi cư trú với nguyên đơn.
2. Bà Mai Hồng Châu, sinh năm 1984.
3. Ông Mai Thành Đạt, sinh năm 1985
4. Bà Nguyễn Thị Bích, sinh năm 1983
Có cùng nơi cư trú với bị đơn.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng có nơi cư trú nêu trên (Văn bản ủy quyền của bà Châu, ông Đạt, bà Bích cùng ngày 13/02/2014) (có mặt).
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa án, nguyên đơn – bà Mai Thị Ngọc Hằng trình bày:
Bà là cô ruột của bà Mai Hồng Thắm. Ngày 01/9/2011, tại phòng công chứng số 01 Thành phố Hồ Chí Minh, bà lập hợp đồng cho bà Thắm vay 900.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, lãi suất 1.2%/tháng, bà Thắm thế chấp cho bà bản chính giấy tờ căn nhà số 550/27/1 đường Huỳnh Tấn Phát, Ấp 3, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè. Sau đó, bà Thắm trả cho bà được 08 tháng tiền lãi theo mức lãi suất 2.2%/tháng (Tổng cộng 158.400.000 đồng) thì ngưng không trả nữa cho đến nay.
Bà khởi kiện yêu cầu bà Thắm trả 900.000.000 đồng vốn và tiền lãi theo mức lãi suất 1.2%/tháng tính từ ngày 01/9/2011 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm, trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về số tiền lãi bà đã nhận 158.400.000 đồng, bà đồng ý cấn trừ vào số tiền bà Thắm nợ.
Bà Mai Hồng Thắm có bà Nguyễn Thị Thu Hồng (mẹ ruột) đại diện trình bày:
Bà Thắm thừa nhận ngày 01/9/2011, bà Thắm vay bà Hằng 900.000.000 đồng với mức lãi suất 1.2%/tháng, bà Thắm trả lãi được 08 tháng tiền lãi theo mức lãi suất 2.2%/tháng, tổng cộng 158.400.000 đồng thì ngưng không trả nữa cho đến nay. Hiện nay, bà Thắm đang gặp khó khăn về kinh tế, bà Thắm đề nghị được trả góp 3 triệu đồng/tháng cho đến khi bán được căn nhà đang thế chấp cho bà Hằng hoặc bà Hằng đồng ý mua lại căn nhà trên để cấn trừ nợ, cụ thể: Bà Thắm bán nhà cho bà Hằng với giá 1 tỷ 300 triệu đồng, bà Hằng phải thối lại cho bà Thắm 400.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Ngô Hoàng Tâm (chồng bà Hằng) trình bày:
Bà Hằng cho vay bà Thắm vay số tiền trên là tài sản chung của ông và bà Hằng, ông thống nhất có cùng yêu cầu như bà Hằng.
Bà Mai Hồng Châu, ông Mai Thành Đạt, bà Nguyễn Thị Bích có bà Nguyễn Thị Thu Hồng (mẹ ruột) đại diện trình bày: Căn nhà trên, bà Thắm đứng tên nhưng thực chất có sự đóng góp ½ số tiền của ông Mai Thành Đạt, vì ông Đạt không có giấy tờ chứng minh nên không tranh chấp. Bà Hồng đại diện cho những người con đang sống trong nhà có cùng ý kiến với bà Thắm.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 69/2014/DS-ST ngày 29/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 25; điểm a khoản 1 Điều 33 và Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Áp dụng: Điều 471, 473, 474, 476, 478 và khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Áp dụng: Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
Áp dụng: Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng: Luật thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bà Mai Hồng Thắm có nghĩa vụ trả cho bà Mai Ngọc Hằng, ông Ngô Hoàng Tâm số tiền nợ gốc 900.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 01/9/2011 đến ngày 29/5/2014 là 333.145.161 đồng, được trừ đi tiền lãi hai bên đã giao nhận 158.400.000 đồng, còn lại bà Thắm phải trả cho bà Hằng, ông Tâm tổng số tiền là 1.074.745.161 đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Nếu bà Thắm không thực hiện việc trả số tiền nêu trên, kể từ ngày bà Hằng, ông Tâm có đơn yêu cầu thi hành án thì bà Thắm còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Bà Mai Ngọc Hằng, ông Ngô Hoàng Tâm được quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp đối với căn nhà số 550/27/1 Huỳnh Tấn Phát, Ấp 3, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi khoản nợ vay trong trường hợp bà Mai Ngọc Hằng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Ngọc Hằng phải chịu án phí 1.110.442 đồng, bà Mai Hồng Thắm phải chịu án phí 44.242.355 đồng. Hoàn tạm ứng án phí 22.092.000 đồng cho bà Mai Ngọc Hằng theo biên lai số AG/00142 ngày 19/11/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền thỏa thuận thi hành án, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 12/6/2014, bà Mai Hồng Thắm có bà Nguyễn Thị Thu Hồng đại diện kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu cấp phúc thẩm tính lãi tiền lãi và xem xét giải quyết cho bà Thắm trả dần số tiền nợ.
Ngày 27/6/2014, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định kháng nghị số 39/QĐKNPT-DS, kháng nghị bản án sơ thẩm với nội dung: Cấp sơ buộc bị đơn trả lãi cho nguyên đơn với mức lãi 1,125%/tháng tính từ ngày vay tiền đến ngày xét xử sơ thẩm là không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm vể lãi suất và tính lại án phí.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bà Mai Hồng Thắm có bà Nguyễn Thị Thu Hồng đại diện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo trên: Bà Hồng yêu cầu xét lại tiền lãi và yêu cầu bà Hằng cho bà Thắm trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. 
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên yêu cầu kháng nghị: Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm vể lãi suất và tính lại án phí.
Bà Mai Ngọc Hằng trình bày: Bà đồng ý tính lại tiền lãi cho đúng theo pháp luật quy định. Bà không đồng ý cho bà Thắm trả dần, bà yêu cầu bà Thắm trả tiền vốn và tiền lãi ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Ngô Hoàng Tâm có cùng yêu cầu với bà Mai Ngọc Hằng.
Bà Mai Hồng Châu, ông Mai Thành Đạt, bà Nguyễn Thị Bích có bà Nguyễn Thị Thu Hồng đại diện có cùng yêu cầu với bà Mai Hồng Thắm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm vụ án. Về hình thức: Trong quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng, người tham gia tố tụng và các quyền lợi ích hợp pháp khác của các đương sự cho đến tại thời điểm kết thúc phần tranh luận. Về nội dung: Bà Thắm kháng cáo yêu cầu bà Hằng cho bà Thắm trả dần số nợ nhưng không được bà Hằng đồng ý nên phần kháng cáo này không được chấp nhận. Về phần tiền lãi, cấp sơ thẩm tính lãi không đúng gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Thắm, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Thắm và kháng nghị của Viện kiểm sát về phần lãi và sửa án sơ thẩm.
XÉT THẤY
          Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc:
Căn cứ lời khai của nguyên đơn – bà Mai Ngọc Hằng và lời thừa nhận của bị đơn – bà Mai Hồng Thắm có bà Nguyễn Thị Thu Hồng đại diện thì: Vào ngày 01/9/2011, bà Hằng cho bà Thắm vay 900.000.000 đồng với mức lãi suất 1.2%/tháng, thời hạn vay 24 tháng, bà Thắm thế bản chính chấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu căn nhà số 550/27/1 Huỳnh Tấn Phát, Ấp 3, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè của UBND huyện Nhà Bè cấp cho bà Thắm vào ngày 25/11/2009 (Hồ sơ gốc số 367/2009/GCN-UB). Sau khi vay tiền, bà Thắm trả cho bà Hằng 8 tháng tiền lãi với mức lãi suất 2.2%/tháng với số tiền là 158.400.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 80 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án công nhận đó là sự thật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Mai Hồng Thắm có bà Nguyễn Thị Thu Hồng đại diện và xét kháng nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về yêu cầu tính lại tiền lãi: Như đã nêu trên, các bên thừa nhận ngày 01/9/2011, bà Hằng cho bà Thắm vay 900.000.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng với mức lãi suất 1,2%/tháng, sau khi vay bà Thắm trả cho bà Hằng 158.400.000 đồng. Tại khoản 1 Điều 476 của Bộ luật dân sự quy định “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì lãi suất cơ bản là 9%/năm (tức 0,75%/tháng).
Như vậy, theo quy định thì mức lãi suất là: 0,75%/tháng x 150% = 1,125%/tháng. Nhưng bà Hằng cho bà Thắm vay với mức lãi 1,2%/tháng là cao hơn mức lãi quy định nên cần phải điều chỉnh lại cho đúng và số tiền lãi được tính như sau: Ngày vay 01/9/2011, ngày đến hạn trả 01/9/2013 (24 tháng). 900.000.000 đồng (vốn) x 1,125%/tháng x 24 tháng ­­= 243.000.000 đồng (lãi trong hạn).
Theo khoản 5 Điều 474 của Bộ luật dân sự quy định “Trong trường hợp vay mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi quá hạn theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.
Do đó, số tiền lãi quá hạn được tính như sau: Từ ngày 02/9/2013 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/5/2014 là 8 tháng 27 ngày. 900.000.000 đồng (vốn) x 0,75%/tháng x 8 tháng 27 ngày = 60.075.000 đồng (lãi quá hạn).
Tổng cộng bà Thắm nợ bà Hằng: 900.000.000 đồng (vốn) + 243.000.000 đồng (lãi trong hạn) + 60.075.000 đồng (lãi quá hạn) = 1.203.075.000 đồng. Nhưng bà Thắm đã trả cho bà Hằng được 158.400.000 đồng (lãi), như vậy bà Thắm chỉ còn nợ bà Hằng 1.203.075.000 đồng - 158.400.000 đồng = 1.044.675.000 đồng, gồm 900.000.000 đồng (vốn) và 144.765.000 đồng (lãi).
Cấp sơ thẩm buộc bà Thắm trả cho bà Hằng 1.074.745.161 đồng (gồm tiền vốn, lãi) là không đúng. Do đó kháng cáo của bà Thắm và kháng nghị của viện kiểm sát về phần lãi là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về yêu cầu trả nợ dần: Bà Thắm yêu cầu bà Hằng cho bà Thắm mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ nhưng không được bà Hằng đồng ý, do đó yêu cầu này của bà Thắm không được chấp nhận.
 Từ những phân tích trên, cấp phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Thắm có bà Hồng đại diện về phần tiền lãi sửa bản án sơ thẩm. Lời đề nghị của Viện kiểm sát được chấp nhận.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng: Điều 263; khoản 2 Điều 275; Điều 131 và Điều 132 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2011;
 Áp dụng: Khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự;
Áp dụng: Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng: Luật Thi hành án dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1.                  Sửa bản án sơ thẩm.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Mai Hồng Thắm có bà Nguyễn Thị Thu Hồng đại diện.
3. Chấp nhận kháng nghị của Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Mai Hồng Thắm có trách nhiệm thanh toán cho bà Mai Ngọc Hằng, ông Ngô Hoàng Tâm số tiền 1.044.675.000 đồng, trong đó có 900.000.000 đồng (vốn) và 144.765.000 đồng (lãi).
Ngay sau khi bà Thắm thanh toán xong cho bà Hằng, ông Tâm số tiền trên, thì bà Hằng có trách nhiệm trả cho bà Thắm bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất căn nhà số 550/27/1 Huỳnh Tấn Phát, Ấp 3, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè của UBND huyện Nhà Bè cấp cho bà Thắm vào ngày 25/11/2009 (Hồ sơ gốc số 367/2009/GCN-UB). Nếu, bà Thắm không thanh toán cho bà Hằng, ông Tâm số tiền trên thì bà Hằng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi căn nhà trên để thu hồi nợ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả số tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thắm chịu 42.340.250 đồng. Bà Hằng chịu 2.612.250 đồng được khấu trừ vào số tiền bà Hằng đã tạm ứng án phí 22.092.000 đồng theo biên lai số AG/00142 ngày 19/11/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, hoàn trả lại cho bà Hằng 19.479.750 đồng.
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Thắm 200.000 đồng đã đóng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AG/2011/00593 ngày 18/6/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè.
Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
             CÁC THẨM PHÁN                                THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  Lê Thị Hồng Hạnh       Lê Thị Nhanh                                   Nguyễn Chí Cao
2.                  Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong bản án (quyết định) liên quan đến chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán mà anh/chị đã tìm thấy.
Theo tôi trong bản án này Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có hướng giải quyết hợp lý.
Trong quyết định này, bà Thắm đã vay 900.000.000 đồng của bà Hằng với mức lãi suất 1.2%/tháng, thời hạn vay 24 tháng và thanh toán lãi hàng tháng nhưng bà chỉ thanh toán được 08 tháng tiền lãi thì ngưng thanh toán. Quá thời hạn thanh toán mà bà Thắm chưa thanh toán cho bà Hằng nên theo quy định tại Khoản 1, Điều 286 Bộ luật dân sự năm 2005 thì bà Thắm đã chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán với bà Hằng. Việc Tòa án xác định đây là trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là chính xác.
Tòa án buộc bên chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán (bà Thắm) phải thanh toán khoản tiền gốc, tiền lãi trong hạn, và tiền lãi quá hạn cho bên có quyền (bà Hằng) là rất đúng. Điều 305 bộ luật dân sự năm 2005 có quy định:
1.                  “Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
2.                  Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Việc Tòa án xác định bà thắm phải trả tiền vốn 900.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, bên cạnh đó tòa án còn buộc bà Thắm thanh toán cho bà Hằng tiền lãi quá hạn từ thời điểm hết hạn thanh toán tới ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là phù hợp với quy định tại Khoản 2 điều này. Đồng thời đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền (được thu hồi nợ và được bù đắp khoản thiệt hại do việc chậm thanh toán tiền) cũng như bên có nghĩa vụ (được thanh toán không vượt quá số tiền phải thanh toán, được trả lãi không theo ý chí của bên có quyền mà theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố).
Tòa án còn xác định nếu sau khi bản án có hiệu lực mà bà Thắm không thanh toán cho bà Hằng, ông Tâm số tiền trên thì bà Hằng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi căn nhà trên để thu hồi nợ. Việc xác định này là một biện pháp nhằm bảo đảm cho bên có quyền sẽ chắc chắn được thu hồi nợ cho dù bên có nghĩa vụ có ứng xử như thế nào. Như vậy, sẽ bảo vệ được bên bị xâm hại đến nghĩa vụ thanh toán trong giao dịch dân sự.





1 “Điều 281: Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự
    Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các căn cứ sau đây:
   1. Hợp đồng dân sự;”
[2] Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức 2013, tr 402.
[3] 2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.”
[4] Bản án số 834/2012/DS-ST  ngày 18-6-2012 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.”

[6] “3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thỏa thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.”.
[7] “2. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.

[8] Ví dụ, trong một hợp đồng, chúng ta thấy nêu “Thời gian dự kiến giao nhà là quý IV năm 2009 (Điều 5); trường hợp bên A giao nhà trễ hạn theo quy định trong thoả thuận vốn góp, bên B có văn bản gửi bên A yêu cầu giao đúng thời hạn, nếu không thì bên A phải chịu lãi suất chậm tiến độ là 1% của giá trị của bên B đã thanh toán, trừ trường hợp bất khả kháng như thiên tai, chiến tranh, thay đổi chính sách nhà nước… (trách nhiệm này của bên A được miễn trừ trong trườnh hợp bên A không nhận được thông báo bằng văn bản của bên B) (Điều 6) và bên B muốn chuyển nhượng căn hộ phải đến làm thủ tục chuyển nhượng tại văn phòng của bên A. Trong trường hợp bên B chuyển nhượng căn hộ mà không thông qua bên A để làm lại thoả thuận góp vốn cho bên nhận chuyển nhượng thì bên B vẫn phải chịu mọi trách nhiệm thanh toán các đợt kế tiếp theo Điều 2 (Điều 7)”.
[9] Bản án số 110/2006/DSPT ngày 5/5/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh. (PGS.TS Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, Nxb CTQG 2014 (tái bản lần tư), Bản án số 143, tr. 685 đến 687).

[10] Quyết định số 105/GĐT-DS ngày 30/5/2003 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao tỉnh An Giang. (PGS.TS Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, Nxb CTQG 2014 (tái bản lần tư), Bản án số 144, tr. 687 đến 690).

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu ver 2

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu

Hình sự- Bài tập - CÁC TỘI PHẠM VỀ QUẢN LÝ