Buổi thảo luận thứ sáu: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Buổi thảo luận thứ sáu: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Vấn đề 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
1.      Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Trả lời:
Cơ sở pháp lý:
Theo Điều 604 BLDS năm 2005: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.      Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.
2.      Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.
Hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP. Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện sau:
“1.1. Phải có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611BLDS.
b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mấy uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.
1.2. Phải có hành vi trái pháp luật.
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.
1.3. Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
1.4. Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.
a) Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.”
Như vậy, “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã ký kết”[1].  Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
-         Phải có thiệt hại: Thiệt hại là một yếu tố cấu thành của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần. Không có thiệt hại thì không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Thiệt hại là một điều kiện bắt buộc phải có làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
-         Hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là hành vi xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và do đó xâm phạm đến những quy định của pháp luật bảo vệ lợi ích đó.
-         Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại và thiệt hại đã xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra hậu quả.
-         Người gây ra thiệt hại có lỗi (lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý): Lỗi là một yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lý của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi ấy.
Bốn điều kiện trên mới chỉ là những điều kiện nói chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoải hợp đồng, tức là những trường hợp thông thường, còn có những trường hợp đặc biệt khác hoặc là không cần bốn điều kiện đó (Ví dụ: Trách nhiệm về thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không cần điều kiện có lỗi).[2]
2.      Thế nào là hành vi trái pháp luật? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là hành vi xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và do đó xâm phạm đến những quy định của pháp luật bảo vệ lợi ích đó.
Trong cuốn sách “Trách nhiệm tài sản do gây thiệt hại” (Nxb. Pháp lý Matxcova, 1979, trang 14), tác giả A.M cho rằng: “hành vi trái pháp luật là hành vi vi phạm một quy phạm pháp luật cụ thể hay xâm phạm quyền chủ quan của người khác”.
Theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006: Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp luật.
Về mặt khách quan hành vi trái pháp luật có thể là :
-         Hành động: Bằng chính hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm điều pháp luật cấm.
-         Không hành động: cá nhân, tổ chức không làm những việc mà pháp luật yêu cầu phải làm.
Về mặt chủ quan hành vi trái pháp luật có thể là cố ý hoặc vô ý.

3.      Trong vụ việc trên, ông Trung có hành vi trái pháp luật không? Vì sao?
Trả lời:
Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006: “Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp luật” . Điều luật chỉ quy định chủ thể của hành vi trái pháp luật là con người nói chung chứ không hề quy định về tuổi chịu trách nhiệm dân sự cũng như tình trạng năng lực trách nhiệm dân sự của chủ thể nên có thể nói hành vi của ông Trung trong vụ việc trên là hành vi trái pháp luật vì ông đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác dẫn đến thiệt hại xảy ra.
4.      Trong vụ việc trên có tồn tại thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật không? Vì sao?
Trả lời:
Trong vụ việc trên có tồn tại thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật. Vì tình huống có nêu “Do có rối loạn thần kinh, ông Trung đã gây thiệt hại cho người khác”, do đó thiệt hại có tồn tại. Nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại đó chính là hành vi trái pháp luật của ông Trung, nếu không có hành vi đó thì thiệt hại không xảy ra. Nên có tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại.
thiệt hại xảy ra cho người khác được xuất phát từ hành vi trái pháp luật của ông Trung, nếu ông Trung không thực hiện hành vi trái pháp luật thì sẽ không có thiệt hại bị xảy ra.
5.      Thế nào là lỗi với tư cách là một căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Trả lời:
Lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây ra thiệt hại, lỗi được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Lỗi trong trách nhiệm dân sự là lỗi suy đoán.
-         Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
-         Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
BLDS năm 2005 cho rằng “lỗi” điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng không định nghĩa thế nào là “lỗi” mà chỉ nêu là “lỗi cố ý” hoặc “lỗi vô ý” trong phần không thực hiện nghĩa vụ dân sự. (Khoản 2 Điều 308 BLDS năm 2005 về Lỗi trong trách nhiệm dân sự).
Theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006:“Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặt cho thiệt hại xảy ra.”
Vẫn theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006: “Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi gây thiệt hại của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”.
Nhìn chung, lỗi cũng được hiểu là “trạng thái tâm lý, thái độ tâm lý” hay nói cách khác là nhận thức của con người (biết hoặc phải biết) đối với hành vi của mình. Quan hệ tâm lý ở đây bao gồm hai yếu tố lý trí và ý chí:
-         Yếu tố lý trí thể hiện ở nhận thức thực tại khách quan;
-         Yếu tố ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành vi.
Như vậy, một người bị coi là có lỗi khi người đó nhận thức được hoặc không nhận thức được nhưng có đủ điều kiện thực tế để nhận thức được tính chất gây thiệt hại của hành vi và có đủ điều kiện để điều khiển một hành vi khác không gây thiệt hại. Đó là căn cứ lỗi với tư cách là một căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, còn những người không có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình sẽ không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó.
6.      Lỗi và hành vi trái pháp luật nêu trên khác nhau ở điểm nào?
Trả lời:
Lỗi
Hành vi trái pháp luật
-         Là thái độ của người gây thiệt hại đối với hành vi và hậu quả đã thực hiện.
-         Được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý.
-         Lỗi là yếu tố chủ quan.                                  
-         Là hành vi xử sự của con người trái với quy định của pháp luật.
-         Được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động.
-         Hành vi trái pháp luật là hành vi mang yếu tố khách quan.

-         Về bản chất, lỗi được xác định là quan hệ giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định những yêu cầu của xã hội đã được thể hiện thông qua các quy định của pháp luật. Khi một người có đủ nhận thức và điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với pháp luật, tránh gây thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó bị coi là có lỗi. Như vậy, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh thái độ nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện.
-         Hành vi trái pháp luật là những hành vi được thực hiện trái với những quy định của pháp luật cụ thể là làm những việc mà pháp luật cấm.
-         Điểm khác biệt rõ rệt nhất chính là cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường. Cụ thể là trong thực tiễn các Tòa án xét xử không lấy yếu tố lỗi làm cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà căn cứ vào hành vi có trái pháp luật hay không.
Như vậy có thể xem hành vi trái pháp luật là hình thức, còn lỗi là nội dung của một vi phạm pháp luật. Một hành vi trái pháp luật được thực hiện không đương nhiên bao gồm yếu tố lỗi.
7.      Trên cơ sở sự khác biệt giữa lỗi và hành vi trái pháp luật nêu trên, ông Trung có lỗi trong việc gây thiệt hại không? Vì sao?
Trả lời:
Trên cơ sở sự khác biệt giữa lỗi và hành vi trái pháp luật nêu trên, có thể nói ông Trung không có lỗi trong việc gây thiệt hại. Vì khi thực hiện hành vi trái pháp luật, ông Trung không thể nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật do đang mắc bệnh tâm thần.
8.      Trong thực tiễn xét xử, đối với hoàn cảnh như ông Trung nêu trên, người gây thiệt hại có chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không? Nếu có, cho biết thực tiễn xét xử mà anh/chị biết.
Trả lời:
Trong thực tiễn xét xử, đối với hoàn cảnh như ông Trung nêu trên, người gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Chúng ta đều biết rằng để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì cần làm rõ bốn yếu tố bao gồm: “thiệt hại”, “hành vi trái pháp luật”, “mối quan hệ nhân quả” và “lỗi”. Thường thì Tòa án chỉ quan tâm tới ba yếu tố đầu chứ không phân tích yếu tố thứ tư cho dù Tòa án có nhận xét là “không có lỗi” (lỗi ở đây được hiểu là hành vi trái pháp luật).
Những người chưa thành niên, những người bị bệnh tâm thần gây thiệt hại trong tình trạng không nhận thức được hành vi của mình vẫn phải bồi thường thiệt hại và cần phải hội đủ ba điều kiện là: có hành vi trái pháp luật, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả. Điều này cho thấy sự vô lý của pháp luật hiện hành khi cho rằng người bình thường gây thiệt hại thì cần phải có yếu tố “lỗi” mới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (vì người không có khả năng nhận thức (tức người không bình thường) thì không có lỗi).
Trong bản án 877/2008/HSPT ngày 26/11/2008 của Tòa án Phúc Thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao Hà Nội, phần Xét thấy có đoạn: “Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền chi phí mai táng nạn nhân theo kê khai của bà Phạm Thị Thảo (mẹ nạn nhân) là 13.800.000 đồng và buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Thảo số tiền bù đắp về tinh thần ở mức cao nhất là 60 tháng lương cơ bản (540.000 đồng/tháng) là có căn cứ đúng luật. Nhưng Tòa án sơ thẩm lại trừ 6.200.000 đồng trong tổng số tiền bị cáo phải bồi thường vì cho rằng: khi phạm tội bị cáo nhận thức hạn chế là không chính xác; bởi lẽ, nạn nhân hoàn toàn không có lỗi; việc hạn chế khả năng nhận thức khi thực hiện tội phạm chỉ được xem xét về phần trách nhiệm hình sự. Do đó, có căn cứ xác nhận một phần yêu cầu kháng cáo của đại diện người bị hại; buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình người bị hại do bà Phạm Thị Thảo đại diện nhận gồm: 13.800.000 đồng chi phí mai táng và 32.400.000 đồng tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Tổng cộng hai khoản là 46.200.000 đồng; đã bồi thường 5.700.000 đồng.
Tại bản án số 85/2006/HSST ngày 28/02/2006 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội cũng có những kết luận như bản án trên.
Như vậy, thực tiễn xét xử ở Việt Nam đã theo hướng không cần xác định lỗi chỉ cần chủ thể vi phạm ba điều kiện: có hành vi trái pháp luật, thiệt hại xảy ra và quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì chủ thể đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
9.      Suy nghĩ của anh/ chị về vai trò của yếu tố lỗi trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trả lời:
Yếu tố lỗi trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là không cần thiết vì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự, nên nó có đầy đủ đặc điểm của trách nhiệm dân sự. Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự được quy định tại Điều 7 BLDS 2005 là “ Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Như đã phân tích ở trên, yếu tố lỗi không phải là điều kiện để chịu trách nhiệm dân sự. Mặt khác, lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải là lỗi suy đoán bởi hành vi gây thiệt hại là trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoán là có lỗi. Điều này thể hiện ở khoản 3 Điều 606 BLDS 2005: “Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”. Theo quy định này, chủ thể gây thiệt hại muốn loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải chứng minh rằng mình không có lỗi. Vì vậy, việc quy định “lỗi” là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là không hợp lý, trái với nguyên tắc cơ bản của BLDS 2005.
Điều 604 BLDS 2005 quy định phải hội đủ 4 điều kiện: 1) có thiệt hại xảy ra; 2) hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật; 3) phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra; 4) người gây thiệt hại phải có lỗi thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử của Tòa án thì những người không có khả năng nhận thức đầy đủ (người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự) thì chỉ cần đủ 3 điều kiện là có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả đã phát sinh trách nhiệm bồi thường. Còn đối với người bình thường thì phải hội đủ 4 điều kiện. Điều này là bất công trong áp dụng pháp luật, đối xử không công bằng giữa các công dân. Phải đảm bảo được nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Do vậy, theo nhóm, cần phải giải quyết tình trạng này bằng một trong hai cách: 1) là phải loại yếu tố lỗi ra khỏi các điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; 2) là phải loại bỏ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của những người không có khả năng nhận thức (cả về mặt quy đinh pháp luật tại khoản 2, khoản 3 Điều 606 BLDS 2005cũng như trong thực tiễn xét xử).
Trong 2 cách nêu trên, chọn cách thứ nhất là loại yếu tố lỗi ra khỏi các điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hợp lý nhất. Vì như vậy sẽ tạo công bằng và giảm bớt khả năng lợi dụng pháp luật để không chịu trách nhiệm bồi thường.
Ở nước ngoài như ở Pháp hay một số nước khác[3], theo Điều 1340-1 Dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự Pháp: “người gây thiệt cho người khác vẫn có trách nhiệm bồi thường cho dù người này không có khả năng nhận thức”. Thổ Nhĩ Kỳ đang tiến hành sửa đổi pháp luật và họ cũng theo hướng người gây thiệt hại phải bồi thường cho dù không có khả năng nhận thức.
Xét về văn bản và cả thực tiễn xét xử ở Việt Nam và quốc gia khác thì yếu tố “lỗi” thật sự không là điều kiện bắt buộc trong xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Vấn đề 2: Xác định thiệt hại vật chất khi tính mạng bị xâm phạm.
1.      Đoạn nào của bản án  trên cho thấy Tòa án đã chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí vé máy bay và thuê ô tô với tư cách là chi phí hợp lí cho việc mai táng?
Trả lời:
“Hội đồng xét xử xét thấy, chi phí hợp lý cho việc mai táng anh Quyên gồm: Chi phí vé máy bay 5.175.000đ, tiền thuê ô tô từ sân bay đến bệnh viện 500.000đ, tiền thuê xe ô tô chở thi hài anh Quyên về quê 22.000.000đ, tiền bồi dưỡng lái xe 600.000đ, tiền chi phí trên đường đưa thi hài anh Quyên về quê là 2.000.000đ; tiền thuê lều bạt, bàn ghế 3.000.000đ; tiền đất, công đào huyệt 2.500.000đ, tiền xe chở người bị hại đi mai táng 1.500.000đ, tổng cộng 37.275.000đ”
2.      Nghị quyết 03 của HĐTP có quy định chi phí hợp lí đi lại dự tang lễ được bồi thường không? Nêu rõ cơ sở pháp lí khi trả lời.
Trả lời:
Nghị quyết 03 của HĐTP không có quy định chi phí hợp lí đi lại dự tang lễ được bồi thường “Các khoản chi phí hợp lý quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 609, các điểm b và c khoản 1 Điều 610 và điểm a khoản 1 Điều 611 BLDS là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi phí.”
3.      Trong vụ việc trên Tòa án có cho biết ai bỏ ra chi phí máy bay và thuê ô tô trên không?
Trả lời:
Trong vụ việc trên Tòa án không cho biết ai bỏ ra chi phí máy bay và thuê ô tô. Tuy nhiên, Tòa án đã gián tiếp khẳng định rằng chị Đỗ Thị Bảy là người bỏ ra chi phí máy bay và thuê xe ô tô vì đây là một trong những khoản được tính trong chi phí mai táng. Trong phần xét thấy có đoạn: “Chi phí hợp lí cho việc mai táng anh Quyên gồm: Chi phí vé máy bay 5.175.000đ, tiền thuê ô tô từ sân bay tới bệnh viện 500.000đ(...) Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Phạm Văn Uyên yêu cầu các bị cáo bồi thường cho chị Đỗ Thị Bảy là người đại diện người bị hại toàn bộ chi phí mai táng là 73.700.000đ.”
4.      Căn cứ vào thực tiễn xét xử, cách giải quyết trên có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Căn cứ vào thực tiễn xét xử, cách giải quyết trên rất thuyết phục. Vì trên thực tế, chi phí máy bay và thuê ô tô có thể được xem là chi phí hợp lí phù hợp với tập tục địa phương và cần thiết trong trường hợp này. Chi phí này được xem như chi phí hợp lí cho việc mai táng.
Điều 610 BLDS 2005 quy định:
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.”
Theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP :
2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
    2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.
   2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...”
Tại quyết định số 20/HĐTP-HS ngày 24/12/2002 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nhận thấy: “…Tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/HSST ngày 29/4/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 186, và các điểm a và h, khoản 1, các khoản 2 và 3 Điều 38 BLHS 1985, phạt Bích 18 tháng tù, buộc bị cáo bồi thường cho gia đình nạn nhân các khoản:…tiền chi phí đi lại vé máy bay cho gia đình người thân của bị hại từ Miền Bắc vào Nha Trang dự đám tang chị Hạnh là 10 người x 1.500.000đ =15.000.000đ…”
Tại bản án số 609 ngày 10/08/1999 Tòa án quyết định buộc bị cáo bồi thường cho gia đình nạn nhân các khoản :
… Chi phí đi lại cho người thân của bị hại từ Miền Bắc vào Nha Trang dự đám ma là 10 người x400.000đ =4.000.000đ
Xét thấy: “Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của gia đình ông Tiến về khoản chi phí đi lại bằng máy bay của gia đình ông Tiến từ Hà Nội vào để dự tang lễ chị Hạnh là không chính xác. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận 10 người nhưng bằng phương tiện tàu hỏa là không đúng….Theo Điều 614 BLDS quy định thì chi phí hợp lý cho việc mai táng được chấp nhận, do đó chi phí cho việc dự lễ tang cần được xem xét chỉ chấp nhận với những người có quan hệ thân thích với nạn nhân như cha, mẹ, vợ , chồng, anh chị em ruột, con đẻ đi bằng phương tiện máy bay để kịp về dự tang lễ…”

5.      Nếu đó là chi phí mà cháu nạn nhân bỏ ra để dự tang lễ thì có được bồi thường không? Vì sao?
Trả lời:
Nếu đó là chi phí mà cháu nạn nhân bỏ ra để dự tang lễ thì cũng không được bồi thường. Bởi có hai căn cứ sau đây:
Thứ nhất, xét khoản 2 Điều 610 BLDS 2005: Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này.  Như vậy, cháu của anh Quyên (người bị thiệt hại) không phải là hàng thừa kế thứ nhất của anh Quyên nên theo nội dung tại khoản 2 Điều 610 thì cháu bị hại không được bồi thường chi phí để đi dự tang lễ.
Thứ hai, căn cứ vào mục 2.1 và 2.2 phần II NQ 03/2006/NQ-HĐTP:
 “2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.
2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...”
Xét thấy nội dung quy định tại NQ 03/2006/NQ-HĐTP  về việc xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm thì không xác định chi phí đi lại để dự lễ tang của người thân người bị thiệt hại cũng là thiệt hại. Vậy nên, chi phí này không được xem xét để bồi thường.
Tuy nhiên, trong dự thảo sửa đổi bổ sung BLDS  thì có những điểm mới là:
BLDS 2005
Dự thảo sửa đổi bổ sung BLDS
Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định
Điều 614. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
b) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích của người bị thiệt hại, người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Ở dự thảo sửa đổi bổ sung BLDS tại khoản 3 điều 610 đã thay cụm từ “ những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại” thành cụm từ “những người thân thích của người bị thiệt hại”. Đồng thời cũng bỏ đi cụm từ “nếu không có những người này thì...”  nghĩa là phạm vi người được hưởng bồi thường thiệt hại của nạn nhân đã được mở rộng. Nhưng để hiểu rõ hơn tinh thần của điều 610 DTSĐBS thì ta phải làm rõ thế nào là người thân thích để từ đó xác định những người được hưởng bồi thường. Xem xét các văn bản hiện hành, ta thấy cụm từ người thân thích cũng được hiểu khác nhau các Luật. Chẳng hạn :
ü  Bộ Luật Dân sự 2005 có nhắc đến thuật ngữ này tại Khoản 1 Điều 59 như sau:
“Điều 59. Giám sát việc giám hộ
1. Người thân thích của người được giám hộ có trách nhiệm cử người đại diện làm người giám sát việc giám hộ để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ, xem xét, giải quyết kịp thời những đề nghị, kiến nghị của người giám hộ liên quan đến việc giám hộ.
Người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ; nếu không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ; nếu cũng không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác, chú, cậu, cô, dì của người được giám hộ.”
ü  Tại khoản 1 Điều 42 BLTTHS 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) là :
“Người thân thích của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can, bị cáo là người có quan hệ sau đây với một trong những người này:
- Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi;
- Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;
- Là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây; là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; là cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.”
ü  Luật hôn nhân và gia đình 2014 tại khoản 19 Điều 3 quy định:
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
19. Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.”
Vì chưa có một sự giải thích chi tiết và thống nhất nào về “người thân thích” giữa các văn bản hiện hành nên giả sử nếu ta áp dụng dự thảo sửa đổi bổ sung BLDS để xác định các chi phí được bồi thường thì chi phí mà cháu nạn nhân bỏ ra để dự tang lễ thì vẫn được bồi thường.
6.      Tòa án đã buộc người gây thiệt hại phải bồi thường tiền cấp dưỡng cho ai? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trả lời:
Tòa án đã buộc người gây thiệt hại phải bồi thường tiền cấp dưỡng cho con của anh Phạm Văn Quyên là hai cháu Phạm Thị Thu Trang và Phạm Quỳnh Nga.
“Về trợ cấp nuôi con của người bị hại, đại diện người bị hại yêu cầu mỗi tháng các bị cáo phải trợ cấp nuôi hai cháu Phạm Thị Thu Trang và Phạm Quỳnh Nga mỗi cháu số tiền là 800.000đ, thời gian trợ cấp tính từ ngày 25/5/2008 đến khi các cháu đủ 18 tuổi nhưng yêu cầu này không được các bị cáo chấp nhận nên cần buộc họ phải trợ cấp theo quy định của pháp luật”.
7.      Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến tiền cấp dưỡng.
Trả lời:
Theo nhóm thì hướng xác định mức tiền cấp dưỡng của Tòa án là chưa thuyết phục bởi thiết nghĩ mức cấp dưỡng được bồi thường phải phụ thuộc vào khả năng của người cấp dưỡng trước đó. Vì vậy, theo nhóm em thì Tòa án nên làm rõ mức thu nhập bình quân hàng tháng của anh Quyên khi còn sống để mà tính toán khoản tiền bù đắp thích hợp[4].
8.      BLDS có quy định ngày phát sinh trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng và ngày kết thúc trách nhiệm này cho người thân của nạn nhân không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Về thời điểm cuối cùng phải bồi thường tiền cấp dưỡng, khoản 2 Điều 612 BLDS 2005 quy định khá rõ:
2. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng trong thời hạn sau đây:
a) Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;
b) Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết. 
Còn về thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường cấp dưỡng, BLDS chưa cho chúng ta biết trách nhiệm này bắt đầu từ ngày nào. Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử, Tòa án thường xác định thời điểm cá nhân chết là ngày bắt đầu trách nhiệm cấp dưỡng và hướng xác định này là thuyết phục vì cho đến khi cá nhân chết họ không bị mất giảm thu nhập hoặc được bồi thường mất giảm thu nhập (trong trường hợp bị thương một thời gian rồi mới chết) nên thu nhập của họ giúp cấp dưỡng cho người thân vẫn còn[5].
9.      Trong thực tiễn xét xử (ngoài bản án được bình luận), hướng xác định ngày phát sinh trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng như thế nào ? Nêu rõ bản án/quyết định mà anh/chị biết.
Trả lời :
Trong thực tiễn xét xử, có trường hợp Tòa án xác định ngày bắt đầu nghĩa vụ cấp dưỡng là ngày Tòa tuyên án. Chẳng hạn, ngày 5-10-2004 Tú điều khiển xe môtô là xe của ông Mỹ đi giao bánh phở theo yêu cầu của ông Mỹ (Tú không có giấy phép lái xe hạng A1). Khi đi trên đường Trần Nhật Duật theo hướng từ chợ Cao Thắng đi cầu Chương Dương, Tú cho xe chạy tốc độ 45-50km/h và gây tai nạn làm chị Thoa đang đi bộ qua đường chết khi được đưa đến bệnh viện. Liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng, Tòa án sơ thẩm tuyên buộc ông Mỹ : « hàng tháng phải cấp dưỡng 290.000 đồng cho cháu Cương cho đến khi đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ khi tuyên án ». Khi xem xét phúc thẩm, có Tòa phúc thẩm đã xử rằng : « ông Mỹ cấp dưỡng cho cháu Cương sinh ngày 4-11-1985 mỗi tháng 290.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. »
Có trường hợp Tòa án địa phương không nêu thời điểm bắt đầu của trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng. Chẳng hạn, trong Quyết định số 26/HS-GĐT ngày 08-9-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc anh Hải vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ dẫn đến cái chết của anh Hậu, « về thời gian cấp dưỡng, Tòa án cấp sơ thẩm không quyết định cụ thể từ thời điểm nào. »
10. Trong vụ việc trên, Tòa án đã xác định ngày bắt đầu trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng là ngày nào ?
Trả lời :
Trong vụ việc trên, Tòa án đã xác định ngày bắt đầu trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng là ngày 25/5/2008 – đây là người anh Quyên bị đâm chết.
11. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến ngày bắt đầu trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng.
Trả lời :
Hướng xác định thời điểm cá nhân chết là ngày bắt đầu trách nhiệm cấp dưỡng là thuyết phục vì nếu lấy ngày bắt đầu trách nhiệm cấp dưỡng trước khi họ chết thì Tòa án đã buộc họ một thiệt hại không tồn tại, nếu lấy ngày bắt đầu trách nhiệm cấp dưỡng sau khi người bị hại chết thì sẽ gây ảnh hưởng đến lợi ích của người được cấp dưỡng.
12. Nếu cháu Nga sinh ngày 28/10/2008 thì ngày bắt đầu trách nhiệm cấp dưỡng là ngày nào ? Vì sao ?
Trả lời :
Nếu cháu Nga sinh ngày 28/10/2008 thì ngày bắt đầu trách nhiệm cấp dưỡng là ngày cháu bé được sinh ra và còn sống vì khi anh Quyên chết một thời gian thì trách nhiệm cấp dưỡng cho cháu Nga mới phát sinh, trước khi anh Quyên chết thì chị Bảy mới mang thai được 5 tháng, 4 tháng sau đứa trẻ mới ra đời, như vậy khi đứa trẻ ra đời thì người gây thiệt hại mới có trách nhiệm cấp dưỡng cho đứa trẻ.
Vấn đề 3 : Xác định người có trách nhiệm bồi thường (cùng gây thiệt hại).
1.      Trong phần “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của BLDS, trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh trong những trường hợp nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 616 BLDS 2005 :
Điều 616. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra
Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Như vậy, theo BLDS thì trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại.
2.      Trong Bản án số 19, bà Khánh bị thiệt hại trong hoàn cảnh nào? Có xác định chính xác được người gây thiệt hại cho bà Khánh không?
Trả lời:
Bà Khánh bị thiệt hại về tài sản trong lúc anh Hải, chị Tám, chị Hiền giằng co, xô xát với nhau.
Không xác định được chính xác ai là người gây ra thiệt hại cho bà Khánh, chỉ biết bà Khánh bị thiệt hại do xô xát giữa chị Tám và chị Hiền với anh Hải gây ra nên cả ba người phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Khánh.
3.      Đoạn nào của Bản án số 19 cho thấy Tòa án đã theo hướng chị Tám, chị Hiền và anh Hải liên đới bồi thường?
Trả lời:
“Về phần thiệt hại tài sản, bà Khánh trước đây yêu cầu 324.000đ (ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng), nhưng sau đó yêu cầu 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) và yêu cầu anh Hải phải bồi thường cho bà toàn bộ số tiền này. Xét thiệt hại về tài sản của bà Khánh do xô xát giữa chị Tám và chị Hiền với anh Hải đã dẫn đến là hai chiếc ghế gỗ bị gãy chân và các loại bánh, trứng tại quán bà Khánh bị đổ, bể…trong quá trình xô xát là có thật. Do vậy, cần buộc những người này liên đới bồi thường cho bà Khánh, tuy nhiên bà Khánh chỉ khởi kiện yêu cầu đối với anh Hải, do đó Tòa án chỉ xem xét phần trách nhiệm của anh Hải, buộc anh Hải phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Khánh bằng 1/3 số tiền bà yêu cầu là 267.000đ (hai trăm sáu mươi bảy ngàn đồng)”.
4.      Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án về trách nhiệm liên đới.
Trả lời:
Hướng xác định trách nhiệm liên đới của Tòa án là rất thuyết phục và cần được phát triển vì trong trường hợp này không xác định được ai là người gây thiệt hại cụ thể.
5.      Trong quyết định số 226, ai là người trực tiếp gây thiệt hại cho bà Hộ?
Trả lời:
Trong quyết định số 226, bà Trần Thị Lan là người trực tiếp gây thiệt hại cho bà Hộ.
6.      Trong quyết định số 226, ai là người phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà Hộ?
Trả lời:
Trong quyết định số 226, ông Trần Thúc Bảo là người phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà Hộ.
7.      Hướng giải quyết trong quyết định số 226 đã có tiền lệ chưa ? Nếu có nêu tóm tắt tiền lệ đó.
Trả lời:
Quyết định số 114/2006/DS-GĐT ngày 26-5-2006 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Theo đó tại quyết định số 114/2006/DS-GĐT ngày 26-5-2006 của Tòa dân sự tòa án nhân dân tối cao.
Tóm tắt quyết định:
NHẬN THẤY
Tại đơn khởi kiện ngày 21-09-2004 thì anh Nguyễn Hiền yêu cầu Tòa án nhân nhân huyện Nghĩa Hành buộc ông Nguyễn Hữu Ân bồi thường thiệt hại vì gây thương tích cho anh. Theo đó thì do xảy ra xích mích với bố anh Hiền là ông Nguyễn Mông mà ông Hân đã có hành vi chủ mưu, rủ rê, lôi kéo con và các cháu của mình là Nguyễn Đình Bằng và các anh Nguyễn Nam, Nguyễn Phòng, Nguyễn Gặp đến đánh lại ông Nguyễn Mông. Anh Hiền can ngăn thì bị Nguyễn Nam, Nguyễn Phòng, Nguyễn Gặp và Nguyễn Đình Bằng khống chế và đánh anh bằng một cây gậy bạch đàn, anh Hiền sau đó đã vào bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi để điều trị vết thương. Sau khi gây thương tích cho anh Hiền thì anh Bằng đã chết do bị tai nạn giao thông.
Khi ra viện anh Hiền đã khởi kiện yêu cầu ông Ân phải bồi thường cho anh tổng số tiền mà anh yêu cầu ông Ân phải bồi thường là 3.381.000đ
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 39/DSST ngày 29- 12- 2004 Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành đã quyết định.
Buộc ông Nguyễn Hữu Ân (Một Nhỡ) phải bồi thường cho ông Nguyễn Hiền (em) 3.181.000 đồng trong đó tiền thuốc, tiền xe đi bệnh viện, tiền chụp Ci ti sọ não là 2.681.000 đồng, tiền công người theo nuôi là 200.000 đồng, tiền công lao động mất thu nhập là 300.000 đồng.
Ngày 12-1-2005 ông Nguyễn Hữu Ân kháng cáo
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 09/2005/ DSPT ngày 24-5-2005 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định.
Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 39 ngày 29-12-2004 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành và đình chỉ giải quyết vụ án.
Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 3-6-2005 anh Hiền có đơn khiếu nại.
Tại quyết định kháng nghị số 37/2006/DS – KN ngày 23 – 3-2006 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 09/2005/DSPT ngày 24-5-2005 với lý do: Trong quá trình giải quyết vụ án lời khai của anh Bằng, ông Ân và nhiều nhân chứng khác phù hợp với kết luận điều tra của Công an huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi đã xác định ông Ân là chủ mưu, khởi xướng rủ rê con cháu gây thương tích cho anh Hiền. Vì vậy ông Ân là người cùng gây thi
t hại cho anh Hiền phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Hiền. Do anh Hiền chỉ khi kiện ông Ân nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Ân tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn là đúng. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng ông Ân không thể là bị đơn trong vụ án nên đã quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp luật.
Đề nghị Tòa án sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử Giám Đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm số 09/2005/DSPT ngày 24-5-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa Giám Đốc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
XÉT THẤY
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận ông Ân là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê con cháu cùng gây thương tích cho Hiền. Tại đơn khởi kiện, anh Hiền yêu cầu ông Ân phải bồi thường thiệt hại, do đó theo quy định của Bộ luật dân sự thì ông Ân là người có lỗi cố ý cùng gây thiệt hại nên phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Hiền. Anh Hiền có thể khởi kiện yêu cầu một trong số những người cùng gây thiệt hại phải bồi thường. Cùng tham gia gây thương tích cho anh Hiền còn có anh Bằng (con trai ông Ân), sau khi gây thương tích cho anh Hiền anh Bằng đã bị chết nên anh Hiền chỉ khởi kiện yêu cầu ông Ân bồi thường. Vì vậy, căn cứ vào đơn khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Ân là bị đơn dân sự là đúng. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng anh Bằng là bị đơn nhưng do anh Bằng đã chết không để lại thừa kế nghĩa vụ cho ông Ân nên ông Ân không là bị đơn trong vụ án là không đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án là không có căn cứ pháp luật, vì vậy kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ, cần chấp nhận.
Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 09/20005/DSPT ngày 24-5-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngải giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Hiền với bị đơn là ông Nguyễn Hữu Ân.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.

8.      Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến trách nhiệm liên đới.
Trả lời:
Hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến trách nhiệm liên đới là hợp lí và đúng theo quy đnh của pháp lut.
Theo quy định của BLDS hiện hành thì trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 616 và tại đoạn 2 khoản 4 Điều 623, khoản 2 Điều 625 BLDS, ba điều luật này đều quy định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong những trường hợp cụ thể, riêng Điều 616 bên cạnh việc quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại còn quy định phương pháp xác định mức bồi thường thiệt hại của các chủ thể trong trách nhiệm liên đới (căn cứ vào mức độ lỗi của mỗi người, nếu không các định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau).
9.      Bản án số 19, bà Khánh đã yêu cầu bồi thường bao nhiêu và yêu cầu ai bồi thường?
Trả lời:
Về thiệt hại tài sản, bà Khánh trước đây yêu cầu 324.000đ, nhưng sau đó yêu cầu 800.000đ và yêu cầu anh Hải phải bồi thường cho bà toàn bộ số tiền này.
10. Bản án số 19, Tòa án đã yêu cầu anh Hải bồi thường bao nhiêu?
Trả lời:
Bản án số 19, Tòa án đã yêu cầu anh Hải bồi thường 267.000đ cho bà Khánh.
11. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến anh Hải.
Trả lời:
Theo em, hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến anh Hải là chưa hợp lí khi chỉ yêu cầu anh Hải bồi thường 1/3 số thiệt hại bà Khánh đưa ra bởi lẽ trong trường hợp này bà Khánh yêu cầu anh hải bồi thường toàn bộ thiệt hại và yêu cầu trên được coi là việc thực hiện quyền yêu cầu trên cơ sở khoản 1 Điều 298 hay đã miễn trách nhiệm trên cơ sở khoản 3, 4 Điều 298 BLDS 2005 vì thế chúng ta có thể áp dụng khoản 1 Điều 298 BLDS 2005 để buộc anh Hải bồi thường toàn bộ thiệt hại[6].
Vấn đề 4: Giảm mức bồi thường do hoàn cảnh kinh tế
Câu 1 :Theo BLDS, trong những điều kiện nào một người được giảm mức thiệt mà họ có trách nhiệm bồi thường? Nêu rõ từng điều kiện được quy định trong BLDS.
Trả lời:
Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được giải quyết theo các quy định tại các Điều từ Điều 604 đến Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006.
Khoản 2, Điều 605 BLDS2005 quy định: “Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.”
Để được giảm mức bồi thường thiệt hại cần có hai điều kiện sau:
-         Người gây thiệt hại có lỗi vô ý, tức là người gây thiệt hại không lường trước được hành vi của mình sẽ gây ra thiệt hại cho chủ thể khác.
-         Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế  trước mắt và lâu dài của người gây ra thiệt hại. Điều này có nghĩa là xét tại thời điểm bồi thường cũng như trong tương lai thì  người gây ra thiệt hại không có đủ khả năng kinh tế để bồi thường phần lớn hay toàn bộ thiệt hại mà mình gây ra.
Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án xác định bà Lan có lỗi vô ý đối với thiệt hại của của ông Mạnh?
Trả lời:
Đoạn của bản án cho thấy Tòa án xác định bà Lan có lỗi vô ý đối với thiệt hại của ông Mạnh là:
Trích phần Xét thấy của bản án: “...Theo khoản 2, điều 610 của BLDS thì: “Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.” Trong trường hợp này việc xảy ra cháy nhà và gây thiệt hại cho ông Mạnh là do lỗi của bà Lan để cho hệ thống điện quá cũ kỹ gây nên chập điện, cháy nhà và thời điểm phát cháy bà đã nhờ người làm trông coi mà không có sự cảnh giác cao độ, tuy nhiên đây chỉ là lỗi vô ý và hoàn cảnh kinh tế hiện nay của bà Lan rất khó khăn, nợ nần, bệnh tật, tuổi cao, nuôi con bệnh tâm thần và mức bồi thường trên là quá cao so với khả năng kinh tế của bà Lan nên cần xem xét giảm mức bồi thường cho bà 20% là phù hợp...”
Câu 3: Suy nghị của anh/chị về cách xác định lỗi vô ý trên của Tòa án đối với bà Lan.
Trả lời:
Theo nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP: “Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt  hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”.  Trong vụ việc trên, có hỏa hoạn gây thiệt hại cho bà Lan và ông Mạnh, như vậy thiệt hại đã tồn tại. Nguyên nhân gây ra vụ hỏa hoạn là do chập điện bắt nguồn từ phòng trọ số 07 của nhà trọ Ngọc Lan do bà Nguyễn Thị Thu Lan làm chủ. Trong trường hợp này việc xảy ra cháy nhà và gây thiệt hại cho ông Mạnh là do lỗi của bà Lan để cho hệ thống điện quá cũ kỹ gây nên chập điện, cháy nhà và thời điểm phát cháy bà đã nhờ người làm thuê trông coi mà không có sự cảnh giác cao độ. Vậy theo nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP xác định bà Lan có lỗi vô ý là hợp lý. 
Câu 4: Đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án giảm mức bồi thường cho bà Lan?
Trả lời:
Đoạn của bán án cho thấy Tòa án gim mức bồi thường cho bà Lan là: Trích phần xét thấy của bản án: “...Trong trường hợp này việc xảy ra cháy nhà và gây thiệt hại cho ông Mạnh là do lỗi của bà Lan để cho hệ thống điện quá cũ kỹ gây nên chập điện, cháy nhà và thời điểm phát cháy bà đã nhờ người làm trông coi mà không có sự cảnh giác cao độ, tuy nhiên đây chỉ là lỗi vô ý và hoàn cảnh kinh tế hiện nay của bà Lan rất khó khăn, nợ nần, bệnh tật, tuổi cao, nuôi con bệnh tâm thần và mức bồi thường trên là quá cao so với khả năng kinh tế của bà Lan nên cần xem xét giảm mức bồi thường cho bà 20% là phù hợp...”

Câu 5: Mức bồi thường được giảm bao nhiêu? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trả lời:
Mức bồi thường được giảm là 145.200.200đ -> 76.160.000đ.
Đoạn của bản án là: Trích phần xét thấy của bản án: “...mức bồi thường trên là quá cao so với khả năng kinh tế của bà Lan nên cần xem xét giảm mức bồi thường cho bà 20% là phù hợp, nghĩ nên buộc bà Lan bồi thường cho ông Mạnh 80% mức thiệt hại nêu trên, tức là 76.160.000đồng. Đồng thời cần buộc bà Lan bồi thường chi phí mắc điện mới của ông Mạnh theo liệt kê là 310.364đồng là phù hợp...”.

Câu 6: Suy nghĩ của anh/ chị về việc Tòa án quyết định giảm mức bồi thường cho bà Lan( đánh giá từng điều kin nêu trong BLDS để giảm mức bồi thường).
Trả lời:
Theo em,việc Tòa án quyết định giảm mức bồi thường cho bà Lan là hợp lí.Vì
-         Lỗi của bà Lan trong trường hợp này là lỗi vô ý
-         Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của bà Lan.

Câu 7: Nếu bà Lan không có lỗi ( mà vẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường ) thì có thể yêu cầu giảm mức bồi thường không? Vì sao?
Trả lời:
 Nếu bà Lan không có lỗi(mà vẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường) thì không thể yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại vì theo Khoản 2, Điều 605 BLDS2005 quy định: “Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình”. Như vậy, chỉ có người có “lỗi vô ý” mới được giảm mức bồi thường.
Câu 8:Suy nghĩ của anh/chị về các quy định liên quan đến giảm mức bồi thường do hoàn cảnh kinh tế khó khăn trong BLDS.
Trả lời:
Theo em,các quy định liên quan đến giảm mức bồi thường do hoàn cảnh kinh tế khó khăn trong BLDS thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam,phù hợp với truyền thông văn hóa của người Việt Nam.
Tuy nhiên, pháp luật của chúng ta hiện nay chỉ cho người phải bồi thường giảm mức bồi thường  khi người này “vô ý” gây thiệt hại. Có lẽ đây là sự không đầy đủ trong BLDS và nên được bổ sung. Nên bổ sung khả năng được giảm mức bồi thường thiệt hại khi một người phải bồi thường thiệt hại trong khi họ không có lỗi, như trường hợp thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà người chịu trách nhiệm bồi thường không có lỗi hay thiệt hại gây ra do làm ô nhiễm môi trường mà người phải bồi thường không có lỗi.
 Ngoài ra nên bổ sung về chủ thể được giảm mức bồi thường do hoàn cảnh kinh tế khó khăn không giới hạn cho người gây thiệt hại mà mở rộng cho người phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do người khác gây ra.
Dự thảo bộ luật dân sự 2015 (lần dự thảo 8)
“Điều 584. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại       
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hay có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.”

Theo khoản 2, điều 584 Dự thảo BLDS2015 (lần dự thảo 8): “Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hay có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.” đã đưa ra chủ thể có thể được giảm mức bồi thường là người “không có lỗi” hay có “lỗi vô ý”. Tuy nhiên vẫn chưa đề cập tới người phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do người khác gây ra.



[1] Lê Nết, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức 2013, tr.436.

[2] Phạm Kim Anh, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức 2013, tr 442, 443.
[3] Xem G.Viney: Introduction à la ressponsabilité, LGDJ 2008, tr.38.
[4] Đỗ Văn Đại, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngViệt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. ĐH Quốc gia TP.HCM 2014, Bản án số 16-17,tr 542, 543.
[5] Đỗ Văn Đại, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngViệt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. ĐH Quốc gia TP.HCM 2014, Bản án số 64-68, tr 539.
[6] Đỗ Văn Đại, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngViệt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. ĐH Quốc gia TP.HCM 2014, Bản án số 70-73, tr27.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu ver 2

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu

Hình sự- Bài tập - CÁC TỘI PHẠM VỀ QUẢN LÝ