TTDS - CHUYÊN ĐỀ 1 - KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT TTDS, ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ


CHUYÊN ĐỀ 1
KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT TTDS,
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

I/ Trả lời đúng sai, nêu căn cứ pháp lý, giải thích?
1/ Hội thẩm nhân dân tham gia tất cả các phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Sai.
            CSPL: Khoản 1 Điều 11 BLTTDS
Trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn thì HTND không bắt buộc phải tham gia

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bắt buộc phải tham gia tất cả phiên tòa dân sự. Câu này anh coi lại thấy chưa đúng lắm ))=
Sai. 
Theo quy định tại Điều 26, Điều 28, Điều 30 và Điều 32 BLTTDS Tòa án có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Tuy nhiên, VKSND không tham gia tất cả các phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp dân sự mà chỉ tham gia trong những trường hợp do pháp luật quy định. Điều 21 BLTTDS, Thông tư liên tịch số 02/2016, Quy chế kiểm sát dân sự ban hành kèm theo Quyết định 364/QĐ-VKSNDTC và phải hiểu rõ bản chất các quy định về các trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa. Cụ thể: (Đọc http://tks.edu.vn/WebKiemSatVienCanBiet/Detail/9?idMenu=89)

3/ Khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện.
Đúng.
CSPL: khoản 1 Điều 5 BLTTDS.
TA chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện.

4/ Người chưa thành niên không thể trở thành người làm chứng trong tố tụng dân sự.
Sai.
CSPL: Điều 77 BLTTDS.
Mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 BLDS 2015)
Pháp luật TTDS chỉ loại trừ trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự mới không thể làm người làm chứng cho nên Người chưa thành niên nếu không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự vẫn có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng.

5/ Khi có đương sự là người dân tộc, người nước ngoài tham gia tố tụng, bắt buộc phải có người phiên dịch cho họ.
Sai.
CSPL: Điều 20 BLTTDS.
Có ba trường hợp sẽ xảy ra.
Thứ nhất, người dân tộc, người nước ngoài không sử được tiếng nói và chữ viết là Tiếng việt thì họ có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có người phiên dịch.
Thứ hai, người dân tộc, người nước ngoài sử được tiếng nói và chữ viết là Tiếng việt nhưng họ không muốn sử dụng Tiếng việt, trường hợp này phải có người phiên dịch.
Thứ ba, người dân tộc, người nước ngoài sử được tiếng nói và chữ viết là Tiếng việt và họ đồng ý sử dụng Tiếng việt để tham gia tố tụng, trường hợp này không cần có nguời phiên dịch.

6/ Thư ký Tòa án có quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án.
Sai.
CSPL: Khoản 10 Điều 48 BLTTDS   
Quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán.

7/ Thẩm phán không được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án dân sự
Sai.
CSPL: khoản 3 Điều 53 BLTTDS    
Thẩm phán phải từ chối tiền hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong trường hợp họ đã tham gia giải quyết vụ việc dân sự và đã ra bản án, quyết định. Nhưng nếu là thành viên của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, Uỷ ban thẩm phán TAND cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết  vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

8/ Người ký tên trong đơn khởi kiện là nguyên đơn trong vụ án dân sự.
Sai.
CSPL: khoản 2 Điều 68, điểm b, c khoản 2 và khoản 3 Điều 189 BLTTDS     
Nguyên đơn là người khởi kiện, người được cơ quan tổ chức cá nhân khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm hại.
Trường hợp cá nhân là người chưa thành niên, mất NLHVTTDS, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ phải ký tên trong đơn khởi kiện.
Trường hợp cá nhân là người chưa thành niên, mất NLHVTTDS, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn không tự mình làm đơn khởi kiện không thể ký tên hoặc điểm chỉ thì nhờ người khác làm đơn khởi kiện và phải có người làm chứng thì người làm chứng phải ký tên trong đơn khởi kiện.
Trường hợp cơ quan tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên.
Chưa kể trường hợp bị khuyết tật nữa á ))=
Ta thấy chủ thể ký tên trong đơn khởi kiện chưa hẳn sẽ là nguyên đơn.

9/ Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn không thể trở thành bị đơn.
Sai.
CSPL:  khoản 3 Điều 68 BLTTDS   
Theo như định nghĩa thì bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan tổ chức cá nhân khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lơị ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Ở đây chỉ là góc độ chủ quan của người khơỉ kiện cho rằng quyền và lợi ích bị xâm hại thôi chứ không bắt buộc là đã gây thiệt hại cho nguyên đơn. Cho nên câu nhận định là sai.

10/ Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa sơ thẩm.
Sai.
CSPL: khoản 3 Điều 200 BLTTDS  
Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Cho nên việc đưa ra yêu cầu phản tố tại PTST là không được phép.

II/ Bài tập
Câu 1. Chị Tiên kết hôn với anh Sỹ năm 1995, sinh được 3 con là Sử (1997), Sự (1999), Sáng (2005). Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị Tiên nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, đơn này được Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án. Trong đơn khởi kiện, chị Tiên yêu cầu được được ly hôn, được nuôi 3 con chung, không yêu cầu anh Sỹ cấp dưỡng, yêu cầu được chia 50% giá trị tài sản chung là căn nhà trị giá khoảng 7 tỷ tại quận 8 hiện anh chị và các con đang ở, yêu cầu anh Sỹ phải trả số nợ chung 2 tỷ đồng cho chủ nợ là ông Hùng. Hỏi:
a.      Xác định tư cách của đương sự?
-       Chị Tiên kết hôn với anh Sỹ năm 1995, sinh được 3 con là Sử (1997), Sự (1999), Sáng (2005). Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị Tiên nộp đơn khởi kiện xin ly hôn. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyền của TA (khoản 1 Điều 28 BLTTDS).
Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị Tiên nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, đơn này được Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án. Cho thấy Chị Tiên là người khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại. Cho nên Chị Tiên sẽ là nguyên đơn trong vụ án dân sự.
CSPL: Khoản 2 Điều 68 BLTTDS.
         Anh Sỹ là người bị chị Tiên khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết VADS khi cho rằng  quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại. Nên anh Sỹ sẽ là bị đơn.
CSPL: Khoản 3 Điều 68 BLTTDS.
(Ba người con chung thì chúng ta không xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bởi vì Dù có ly hôn hay không thì quan hệ cha mẹ - con không hề thay đổi: cha mẹ vẫn có nghĩa vụ thương yêu và chăm sóc con chung. Như vậy con chung không phải là người có quyền và nghĩa vụ liên quan vì việc giải quyết quan hệ hôn nhân của cha, mẹ và tài sản chung của cha mẹ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của con chung; Chỉ trong trường hợp giải quyết quyền trực tiếp nuôi con, nếu con đã lớn trên 9 tuổi - dưới 18 tuổi thì sẽ hỏi cháu về nguyện vọng muốn sống với ai?)
b.      Nguyên đơn, bị đơn có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng không?
Theo Khoản 4 Điều 85 BLTTDS đối với việc Ly hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trừ trường hợp khoản 2 Điều 51 HNGĐ. Ta nên hiểu việc Ly hôn ở đây bao gồm cả vụ án và việc. Thì việc ly hôn sẽ có thể bao gồm: (tất cả hoặc một hoặc hai trong 3 cái dưới):
1. Quan hệ hôn nhân;
Người đại diện sẽ bảo vệ tối đa cho người được đại diện. Còn trong quan hệ gia đình pháp luật và NN ta luôn có xu huớng khuyến khích các bên duy trì, vun đắp tình cảm hơn là đưa ra toà để giải quyết vì mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình ổn định thì xã hội mới phát triển. Thứ hai, quan hệ hôn nhân là nhân thân, thiên hướng tình cảm cá nhân nhiều hơn, nên để công bằng mà nói khách quan nhất thì chỉ có người trong cuộc mới nắm rõ, thì đối với trường hợp này pháp luật sẽ không cho phép uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng.
2. Chia tài sản chung (khi có yêu cầu);
Về tài sản thì có thể uỷ quyền được cho người khác, vì tài sản là của cải vật chất do các chủ thể đó tạo ra thì họ đương nhiên có quyền sỡ hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) thì chủ thể đó sẽ có quyền uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng cho mình.
3.  Quyền trực tiếp nuôi con (khi có yêu cầu).
Tuỳ vào quan điểm cá nhân. Theo quan điểm của cá nhân tôi thì vẫn nghĩ với con cái thì cha mẹ không được uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng để giải quyết. Vì tình cảm cha mẹ con là không thể tách rời, máu mủ ruột thịt thì dù cha mẹ có ly hôn thì con vẫn là con, nên việc giao cho ai nuôi con phải được thể hiện trước toà cả hai bên thống nhất ý kiến quan điểm.
Câu 2/ Ông Tuấn, bà Hà có 4 người con gồm: Hùng cư trú quận 1, Dũng cư trú quận 5, Kiên cư trú tại Hoa Kỳ, Cường cư trú tại Nhật Bản. Tháng 1/2017, anh Hùng khởi kiện yêu cầu anh Dũng phải chia căn nhà do cha mẹ chết để lại, không có di chúc, nhà tọa lạc tại quận 9, hiện anh Dũng đang cho Công ty TNHH Hoàng Vũ và anh John (quốc tịch Anh) thuê. Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án. Hỏi:
a/ Xác định tư cách đương sự?
Tương tự Bài 1:
Nguyên đơn: Hùng.
Bị đơn: Dũng
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Hoàng Vũ, John, Kiên, Cường.
b/ Bắt buộc phải có người phiên dịch trong vụ án trên không?
Ta phải xem xét các trường hợp:
-         TH3, trong vụ án có ông John (quốc tịch Anh) thì theo pháp luật BLTTDS của Việt Nam thì ông có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có người phiên dịch.
-         TH2: Đương sự tham gia tố tụng có ít nhất một người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dung ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; Trường hợp này phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại
-         TH3: Tất cả các đương sự đều đồng ý sử dụng tiếng nói và chữ viết trong Tố tụng Dân sự là tiếng việt thì sẽ không cần người phiên dịch.
CSPL: Điều 20 và Điều 81 BLTTDS.
c/ Nếu anh Dũng bị câm điếc thì Tòa án xử lý thế nào?
Trường hợp anh Dũng bị câm điếc phải có người biết ngôn ngữ, kí hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại. (Điều 20 BLTTDS).
Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc biết nghe nói bằng ngôn ngữ kí hiệu của người khuyết tật nghe nói cũng được coi là người phiên dịch (khoản 2 Điều 81 BLTTDS).
Lưu ý Trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người thân thích của người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, nói biết được chữ, ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật thì người đại diện hoặc người thân thích có thể được Tòa án chấp nhận làm người phiên dịch cho người khuyết tật đó.
Người phiên dịch được một bên đương sự lựa chọn hoặc các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án yêu cầu để phiên dịch. (khoản 1 Điều 81 BLTTDS).
3/ Bà Lan cho ông Tú vay 300tr, không lãi suất, để mở cửa hàng bán thức ăn gia súc, thời hạn 2 năm, có hợp đồng tay ngày 10/10/2014. Do ông Tú không trả nợ vay, ngày 20/9/2016, bà Lan khởi kiện ông Tú đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu xét xử buộc ông Tú trả nợ vay 300tr, không yêu cầu trả lãi. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ông Tú có đơn yêu cầu bà Lan trả 40tr tiền thức ăn gia súc bà Lan mua từ tháng 1/2013 đến tháng 7/2014 chưa trả, được Tòa án chấp nhận giải quyết trong cùng vụ án do bà Lan khởi kiện. Hỏi:
a/ Xác định tư cách của đương sự?
Nguyên đơn: |Bà Lan
Bị đơn: ông Tú.
b/ Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tú trong cùng vụ án do bà Lan khởi kiện là đúng pháp luật không?
Thời điểm yêu cầu phản tố là sau khi thụ lý vụ án và chưa mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải (khoản  3 Điều 200 BLTTDS) thì ông Tú có quyền này.
Ông Tú có đơn yêu cầu bà Lan trả 40tr tiền thức ăn gia súc bà Lan mua từ tháng 1/2013 đến tháng 7/2014 chưa trả, yêu cầu này là độc lập, không cùng với yêu cầu của bà Lan.
Ta xác định trong trường hợp này bà Lan có nghĩa vụ phải trả cho ông Tú tiền mua thức ăn gia súc bà Lan mua từ tháng 1/2013 đến tháng 7/2014 chưa trả do đó Ông tú yêu cầu TA giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà ông phải thực hiện theo yêu cầu nguyên đơn.
CSPL: khoản  3 Điều 200 BLTTDS,  Khoản 1 và 3 Điều 12 NQ 05/2012.
c/ Giả sử Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là cháu rể của ông Tú. Theo quy định của pháp luật, bà Lan cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thẩm phán là người tiến hành tố tụng dân sự (điểm a khoản 2 Điều 46 BLTTDS).
Xác định tình huống này như sau: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là cháu rể của ông Tú. Không thuộc các trường hợp cụ thể thay đổi Thẩm phán theo Điều 53 BLTTDS. Ta căn cứ lại điều khoản chung :Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng theo Điều 52.
Căn cứ khoản 3 Điều 52 BLTTDS có căn cứ cho rằng họ không thể vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 13 NQ 03/2012 của HĐTP TANDTC thì đây là trường hợp có quan hệ thông gia là căn cứ rõ ràng để có thể khẳng định là Thẩm phán không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
Trước khi mở phiên toà bà Lan phải lập văn bản trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. (khoản 1 Điều 55 BLTTDS).
d/ Ông Tú có quyền ủy quyền cho Luật sư tham gia tố tụng không?
Cần phải xem xét người luật sư này phải không thuộc trường hợp không được làm người đại diện theo Điều 87 BLTTDS.
Người đại diện trong trường hợp này chỉ có thể là theo uỷ quyền. Theo quy định tại khoản 4 Điều 85, Người đại diện theo uỷ quyền theo quy định của BLDS là người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự.
1. Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
3. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.
Vậy ông Tú hoàn toàn có thể uỷ quyền cho luật sư tham gia tố tụng thay cho mình.



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu ver 2

Luật sư - Hành Chính - Hồ sơ 12 - Quyết định xử lý vi phạm hành chính ver 2

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu