CÔNG ƯỚC VỀ MỘT SỐ QUY TẮC LIÊN QUAN TỚI VẬN TẢI HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ (MONTREAL 28 THÁNG 5, 1999)
CÔNG ƯỚC VỀ MỘT SỐ QUY TẮC LIÊN
QUAN TỚI VẬN TẢI HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ
(MONTREAL 28 THÁNG 5, 1999)
CHƯƠNG
I - NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1 - Phạm vi áp dụng
1. Công ước này áp dụng
cho tất cả các vận chuyển quốc tế đối với người, hành lý, hàng hóa được thực hiện
bởi máy bay nhằm mục đích nhận thù lao. Nó áp dụng tương tự đối với vận chuyển
bằng máy bay không phải trả tiền thực hiện bởi một cam kết vận tải hàng không.
2. Về những mục đích của
Công ước này, khái niệm "vận chuyển quốc tế", có nghĩa là bất kỳ vận
chuyển mà trong đó theo thỏa thuận giữa các bên, nơi đi và nơi đến, bất kể là
có hay không sự gián đoạn trong vận chuyển hoặc chuyển tải, đang nằm trong lãnh
thổ của hai quốc gia thành viên, hoặc trong lãnh thổ của một quốc gia duy nhất
nếu có một nơi dừng thỏa thuận trong lãnh thổ của một nước khác, ngay cả khi nước
đó không phải là một quốc gia thành viên. Vận chuyển giữa hai điểm trong lãnh
thổ của một quốc gia duy nhất mà không có một nơi dừng được thỏa thuận trong
lãnh thổ của một nước khác thì không phải là vận chuyển quốc tế cho các mục
đích của Công ước này.
3. Vận chuyển được thực
hiện bởi liên tiếp nhiều người chuyên chở cho các mục đích của Công ước này, được
gọi là một vận chuyển trọn vẹn nếu nó đã được các bên coi như là một hoạt động
đơn lẻ, bất kể là nó đã được thoả thuận dưới dạng hợp đồng đơn lẻ hay một loạt
các hợp đồng, và nó không mất tính chất quốc tế chỉ vì một hợp đồng hay một loạt
các hợp đồng sẽ được thực hiện hoàn toàn trên lãnh thổ của cùng nước thành viên
đó.
4. Công ước này cũng áp
dụng cho vận chuyển như quy định tại Chương V, theo các điều khoản trong đó.
Điều
2 - Vận chuyển thực hiện bởi nước thành viên và vận chuyển bưu phẩm.
1. Công ước này áp dụng
cho vận chuyển được thực hiện bởi nước thành viên hoặc của cơ quan nước thành
viên thành lập hợp pháp miễn là nó nằm trong các điều kiện quy định tại Điều 1.
2. Trong việc vận chuyển
bưu phẩm, người vận chuyển chỉ phải chịu trách nhiệm đối với các quy định quản
lý của Bưu chính có liên quan phù hợp với các quy định áp dụng đối với mối quan
hệ giữa người chuyên chở và các quy định quản lý của Bưu chính.
3. Trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều này, các quy định của Công ước này không áp dụng đối với việc
vận chuyển bưu phẩm.
CHƯƠNG
II - CHỨNG TỪ VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN ĐẾN VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH, HÀNH
LÝ VÀ HÀNG HÓA
Điều
3 - Hành khách và hành lý
1. Đối với vận chuyển
hành khách, chứng từ vận chuyển đơn phương thức hoặc đa phương thức có chứa:
(a) một dấu hiệu về những
nơi đi và nơi đến;
(b) nếu địa điểm khởi
hành và điểm đến nằm trong lãnh thổ của một nước thành viên, một hoặc nhiều điểm
dừng được thỏa thuận trong lãnh thổ của một nước thành viên khác, thì phải có dấu
hiệu của ít nhất một điểm dừng như vậy.
2. Bất kỳ phương tiện
khác lưu giữ thông tin nêu tại khoản 1 có thể thay thế cho việc cung cấp các chứng
từ nêu tại khoản đó. Nếu bất kỳ phương tiện khác như trên được sử dụng thì người
chuyên chở cần đề xuất gửi cho hành khách một tuyên bố bằng văn bản về những
thông tin được lưu giữ như vậy.
3. Người chuyên chở
cung cấp cho hành khách một thẻ nhận dạng hành lý cho mỗi phần của hành lý ký gửi.
4. Hành khách phải được
thông báo bằng văn bản với mục đích là trong phạm vi Công ước này được áp dụng,
nó điều chỉnh và có thể giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở đối với tử
vong hoặc thương tật và sự phá hủy hoặc mất mát, hoặc hư hỏng đối với hành lý,
và đối với sự trì hoãn.
5. Không tuân thủ các
quy định của khoản trên đây không ảnh hưởng đến sự tồn tại hoặc giá trị pháp lý
của hợp đồng vận chuyển, trong đó, tuy nhiên phải tuân theo các quy định của
Công ước này bao gồm cả những quy tắc có liên quan đến giới hạn trách nhiệm.
Điều
4 - Vận chuyển hàng hóa
1. Đối với vận chuyển
hàng hoá, vận đơn hàng không phải được giao.
2. Bất kỳ phương tiện
nào khác có chứa đựng những ghi chép về việc chuyên chở đã được thực hiện có thể
được thay thế cho việc cung cấp một vận đơn hàng không. Nếu các phương tiện
khác như vậy được sử dụng, người chuyên chở, nếu có yêu cầu của người gửi hàng,
phải cung cấp cho người gửi hàng một biên lai hàng hoá cho phép xác định các lô
hàng và truy cập vào các thông tin trong ghi chép được lưu giữ bằng các phương
tiện khác như vậy.
Điều
5 - Nội dung vận đơn hàng không hoặc biên lai hàng hóa
Vận đơn hàng không hoặc
biên lai hàng hoá bao gồm:
(a) một dấu hiệu về những
nơi đi và nơi đến;
(b) nếu địa điểm khởi
hành và điểm đến nằm trong lãnh thổ của một nước thành viên, một hoặc nhiều điểm
dừng được thỏa thuận trong lãnh thổ của một nước thành viên khác, phải có một dấu
hiệu của ít nhất một nơi dừng như vậy;
và (c) thông tin về trọng
lượng của lô hàng.
Điều
6 – Chứng từ liên quan đến bản chất của hàng hóa
Người gửi hàng có thể
được yêu cầu, nếu cần thiết, để đáp ứng các thủ tục hải quan, cảnh sát và các
cơ quan công quyền tương tự, cần cung cấp chứng từ thể hiện rõ tính chất của
hàng hóa. Điều khoản này quy định người chuyên chở không có trách nhiệm, nghĩa
vụ hoặc trách nhiệm pháp lý phát sinh.
Điều
7 - Mô tả của vận đơn hàng không
1. Vận đơn hàng không
được người gửi hàng lập làm ba bản gốc.
2. Bản đầu tiên sẽ được
đánh dấu "cho người chuyên chở"; có chữ ký của người gửi hàng. Bản thứ
hai sẽ được đánh dấu "cho người nhận hàng"; có chữ ký của người gửi
hàng và người chuyên chở. Bản thứ ba phải có chữ ký của người chuyên chở - người
sẽ phải giao vận đơn cho người gửi hàng sau khi nhận hàng.
3. Chữ ký của người
chuyên chở và người gửi hàng có thể được in hoặc đóng dấu.
4. Nếu, theo yêu cầu của
người gửi hàng, người chuyên chở lập vận đơn hàng không, người chuyên chở sẽ được
coi là, theo chứng minh ngược lại, đã làm như vậy thay mặt cho người gửi hàng.
Điều
8 – Chứng từ cho nhiều bưu kiện Khi có nhiều hơn một bưu kiện:
(a) người chuyên chở
hàng hóa có quyền yêu cầu người gửi hàng lập vận đơn riêng biệt;
(b) người gửi hàng có
quyền yêu cầu người chuyên chở cung cấp biên lai hàng hóa riêng biệt khi các
phương tiện khác nêu tại khoản 2 Điều 4 được sử dụng.
Điều
9 - Việc không tuân thủ các yêu cầu chứng từ
Việc không tuân thủ các
quy định từ Điều 4 đến 8 không ảnh hưởng đến sự tồn tại hoặc giá trị pháp lý của
hợp đồng vận chuyển, tuy nhiên, phải tuân theo các quy định của Công ước này
bao gồm cả những quy tắc có liên quan đến giới hạn trách nhiệm.
Điều
10 - Trách nhiệm cho những chi tiết của chứng từ
1. Người gửi hàng phải
chịu trách nhiệm về độ chính xác của các chi tiết và những kê khai liên quan đến
hàng hóa mà họ đã đưa vào hoặc nhân danh họ trong vận đơn hàng không hoặc do họ
cung cấp hoặc thay mặt cho người chuyên chở cho biên lai hàng hoá vào hoặc cho
những ghi chép được lưu giữ bằng các phương tiện khác được nêu tại khoản 2 Điều
4. Các điều trên cũng sẽ được áp dụng khi người đại diện của người gửi hàng
cũng là đại lý của người chuyên chở.
2. Người gửi hàng phải
bồi thường cho người chuyên chở khỏi mất mát do họ gây nên, hoặc do bất kỳ người
nào khác mà người chuyên chở bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý với người đó, vì
lý do bất thường, sự không chính xác hoặc không đầy đủ các chi tiết và kê khai
được cung cấp bởi người gửi hàng hoặc đại diện của người gửi hàng.
3. Theo các quy định của
khoản 1 và khoản 2 Điều này thì người chuyên chở phải bồi thường cho người gửi
hàng về những thiệt hại do họ gây nên, hoặc bởi bất kỳ người nào khác mà người
gửi hàng phải chịu trách nhiệm, vì lý do bất thường, sự không chính xác hoặc
không đầy đủ các chi tiết và kê khai được người chuyên chở hoặc đại diện của họ
đưa vào trong biên lai hàng hóa hoặc trong ghi chép được lưu giữ bằng các
phương tiện khác được nêu tại khoản 2 Điều 4.
Điều
11 - Giá trị chứng cứ của chứng từ
1. Vận đơn hàng không
hoặc biên lai hàng hoá là bằng chứng hiển nhiên của việc giao kết hợp đồng, của
sự chấp nhận của hàng hóa và các điều kiện vận chuyển đề cập trong đó.
2. Bất kỳ việc kê khai
trong vận đơn hàng không hoặc biên lai hàng hoá liên quan đến trọng lượng, kích
thước và đóng gói hàng hóa, cũng như những thông tin liên quan đến số lượng các
gói, là bằng chứng hiển nhiên về các điều đã nêu; những thông tin liên quan đến
số lượng, khối lượng và tình trạng của hàng hóa không cấu thành bằng chứng chống
lại người chuyên chở, trừ khi chúng đều đã, và đang được ghi trong vận đơn hàng
không hoặc biên lai hàng hoá rằng đã được người chuyên chở kiểm tra khi có mặt
người gửi hàng, hoặc liên quan đến tình trạng bên ngoài của hàng hóa.
Điều
12 - Quyền loại bỏ hàng hóa
1. Tùy theo trách nhiệm
thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng chuyên chở, người gửi hàng có quyền loại
bỏ hàng hóa bằng việc để lại chúng tại sân bay khởi hành hoặc nơi đến, hoặc dừng
chúng lại trong hành trình vào bất cứ lúc hạ cánh nào, hoặc yêu cầu chúng được
chuyển đến địa điểm đến hay trong hành trình chuyển tới một người khác ngoài
người nhận hàng được chỉ định ban đầu, hoặc yêu cầu nó được quay trở lại sân
bay khởi hành. Người gửi hàng không được sử dụng quyền loại bỏ hàng hóa này để
gây thiệt hại cho người chuyên chở hoặc cho những người gửi hàng khác và phải
hoàn trả lại bất cứ chi phí nào sinh ra bởi sự thực hiện quyền này.
2. Nếu không thể thực
hiện hướng dẫn của người gửi hàng, người chuyên chở phải thông báo cho người gửi
hàng ngay lập tức.
3. Nếu người chuyên chở
thực hiện những hướng dẫn của người gửi hàng trong việc sắp xếp bố trí hàng hóa
mà không yêu cầu lập ra một phần của vận đơn hàng không hoặc biên lai gửi hàng
chuyển tới người chuyên chở sau, người chuyên chở sẽ phải chịu trách nhiệm, mà
không gây ảnh hưởng tới quyền thu hồi của người gửi hàng, cho bất cứ tổn thất
nào gây ra cho bất kì ai sở hữu hợp pháp cho bản vận đơn hàng không đó hoặc
biên lai gửi hàng
4. Quyền mà người gửi
hàng được hưởng chấm dứt từ thời điểm khi quyền của người nhận hàng bắt đầu
theo điều 13. Tuy nhiên, nếu người nhận hàng từ chối chấp nhận hàng hóa, hoặc
không thể liên lạc được, người gửi hàng được phục hồi lại quyền loại bỏ hàng hóa.
Điều
13 - Giao hàng
1. Trừ khi người gửi
hàng đã thực hiện quyền theo điều 12, người nhận hàng được trao quyền khi hàng
hóa đến địa điểm đến để yêu cầu người chuyên chở giao hàng tới đó, và trả phí
theo điều kiện chuyên chở.
2. Nếu không có thỏa
thuận gì khác, người chuyên chở có trách nhiệm thông báo cho người nhận hàng
ngay khi hàng hóa tới.
3. Nếu người chuyên chở
thừa nhận về sự mất mát của hàng hóa, hoặc nếu hàng hóa chưa tới sau khi hết hạn
7 ngày kể từ ngày hàng hóa lẽ ra phải tới, người nhận hàng được buộc người
chuyên chở chấp nhận những quyền phát sinh từ hợp đồng chuyên chở mà ra.
Điều
14 - Thực hiện quyền của người gửi hàng và người nhận hàng
Người gửi hàng và người nhận hàng được hưởng những quyền tương ứng của mình
theo điều 12 và điều 13, với danh nghĩa của chính mình, bất kể là hợp đồng nhân
danh mình hoặc nhân danh một người khác, miễn là nó thực hiện những nghĩa vụ
quy định trong hợp đồng chuyên chở.
Điều
15 - Mối quan hệ giữa người gửi hàng và người nhận hàng hoặc mối quan hệ chung
với bên thứ ba
1. Điều 12, điều 13 và
điều 14 không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa người gửi hàng và người nhận hàng
với nhau hay mối quan hệ chung với bên thứ ba - bên nhận được quyền lợi từ người
gửi hàng hoặc từ người nhận hàng
2. Những điều khoản thuộc
điều 12, điều 13 và điều 14 chỉ có thể bị thay đổi bằng những điều khoản được
ghi trong vận đơn hàng không và biên lai gửi hàng
Điều
16 - Thủ tục hải quan, công an và các cơ quan chức năng có thẩm quyền khác
1. Người gửi hàng phải cung cấp những thông
tin và chứng từ cần thiết để phù hợp với những thủ tục hải quan, công an và những
cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi hàng hóa có thể được giao cho người
nhận hàng. Người gửi hàng có trách nhiệm với người chuyên chở đối với bất cứ tổn
thất nào gây ra bởi sự mất, thiếu hoặc bất thường của bất kì thông tin hoặc chứng
từ nào, trừ khi tổn thất đó là do lỗi của người chuyên chở, nhân công hoặc đại
lý của người chuyên chở.
2. Người chuyên chở
không có nghĩa vụ phải xác minh tính chân thực hoặc đầy đủ của những thông tin
và chứng từ đó.
CHƯƠNG
III - TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI CHUYÊN CHỞ VÀ PHẠM VI BỒI THƯỜNG TỔN THẤT
Điều
17 - Thương tích hoặc thiệt hại về tính mạng của hành khách - Tổn thất hành lý
1. Người chuyên chở có
trách nhiệm đối với tổn thất chứng minh được trong trường hợp có tử vong hoặc
thương tích của hành khách chỉ trong điều kiện tai nạn gây ra tử vong hoặc
thương tích xảy ra trong khoang máy bay hoặc bất cứ quá trình lên hoặc xuống
máy bay nào.
2. Người chuyên chở có
trách nhiệm đối với tổn thất chứng minh được trong trường hợp hư hại hoặc mất
mát, hay tổn thất đối với hành lý có kê khai chỉ trong điều kiện sự việc gây
nên sự hư hại, mất mát hay tổn thất đó xảy ra trong khoang máy bay hoặc bất cứ
khoảng thời gian nào mà hành lý kê khai vẫn thuộc thời hạn trách nhiệm của người
chuyên chở. Tuy nhiên, người chuyên chở không có trách nhiệm nếu hoặc tới giới
hạn mà tổn thất gây ra do nội tỳ, chất lượng hoặc thiếu sót của hành lý. Trong
trường hợp những hành lý không kê khai, kể cả vật dụng cá nhân, người chuyên chở
có trách nhiệm nếu tổn thất gây ra là do từ lỗi của người chuyên chở hoặc lỗi của
nhân công hoặc đại lý của người chuyên chở.
3. Nếu người chuyên chở
thừa nhận mất mát của hành lý có kê khai, hoặc nếu hành lý có kê khai chưa tới
nơi sau hạn cuối 21 ngày kể từ ngày nó lẽ ra phải đến, hành khách có quyền đòi
người chuyên chở thực hiện những quyền của mình đã quy định trong hợp đồng
chuyên chở 4. Nếu không có ghi chú gì khác, trong Công ước này, cụm từ “hành
lý” bao gồm cả hành lý đã kê khai và hành lý chưa kê khai
Điều
18 - Tổn thất về hàng hóa
1. Người chuyên chở có
trách nhiệm về tổn thất chứng minh được trong trường hợp sự hư hại hoặc mất mát
hay tổn thất về hàng hóa, chỉ trong trường hợp sự việc gây ra tổn thất được chứng
minh đã xảy ra trong quá trình chuyên chở hàng hóa bằng đường hàng không
2. Tuy nhiên, người chuyên chở không có trách
nhiệm nếu hay tới giới hạn mà chứng minh được sự hư hại, mất mát hoặc tổn thất
tới hàng hóa là kết quả của một hoặc nhiều hơn những điều sau:
(a) Ẩn tỳ, chất lượng
hoặc thiếu sót của hàng hóa đó;
(b) Việc đóng gói một
cách thiếu sót hàng hóa bởi một người khác không phải người chuyên chở hoặc
nhân công hay đại lý của người chuyên chở;
(c) Chiến tranh hoặc
xung đột vũ trang;
(d) Hành động của cơ
quan có thẩm quyền thực hiện liên quan đến việc xuất, nhập hoặc quá cảnh của
hàng hóa
3. Việc chuyên chở hàng
hóa bằng đường hàng không trong khoản 1 của điều này bao gồm quá trình trong đó
hàng hóa thuộc trách nhiệm của người chuyên chở.
4. Quá trình của chuyên
chở hàng hóa bằng đường hàng không bao gồm bất cứ việc chuyên chở bằng đường bộ,
đường thủy hay đường thủy nội địa thực hiện bên ngoài sân bay. Tuy nhiên nếu những
việc chuyên chở đó thực hiện trong phạm vi hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường
hàng không, phục vụ mục đích dỡ hàng, vận chuyển hoặc chuyển tải, bất cứ tổn thất
dự đoán trước nào, căn cứ theo bằng chứng ngược lại là kết quả của bất kì sự việc
xảy ra trong quá trình chuyên chở hàng không. Nếu người chuyên chở không có sự
đồng ý của người gửi hàng, thay thế việc chuyên chở bằng một phương tiện chuyên
chở khác cho toàn bộ hoặc một phần quá trình chuyên chở đã được dự kiến bởi sự
đồng ý giữa các bên để chuyên chở bằng đường hàng không, thì phương thức chuyên
chở bằng phương tiện khác đó được coi là một phần của quá trình chuyên chở bằng
đường hàng không.
Điều
19 - Sự trì hoãn
Người chuyên chở có
trách nhiệm với tổn thất gây ra bởi sự trì hoãn chuyên chở bằng đường hàng
không đối với hành khách, hành lý hoặc hàng hóa.
Tuy nhiên, người chuyên
chở không có trách nhiệm đối với tổn thất gây ra bởi sự trì hoãn việc chuyên chở
nếu người chuyên chở chứng minh được rằng người chuyên chở, nhân công và đại lý
của người chuyên chở đã dùng mọi biện pháp hợp lý có thể yêu cầu để tránh tổn
thất hoặc việc thực hiện những biện pháp đó là bất khả thi.
Điều
20 - Miễn trách
Nếu người chuyên chở chứng
minh được tổn thất được gây nên hoặc được góp phần gây nên do sự lơ là hoặc bất
cứ hành động sai trái hay không làm tròn trách nhiệm của người yêu cầu bồi thường,
hoặc từ người mà họ nhận được quyền đó, người chuyên chở sẽ được miễn trách một
phần hoặc toàn bộ trách nhiệm đối tới giới hạn mà sự lơ là hoặc không làm tròn
trách nhiệm đó gây nên hoặc góp phần gây nên tổn thất. Khi một người khác ngoài
hành khách bồi thường cho tổn thất tính mạng hoặc thương tích đối với hành
khách khiếu nại, người chuyên chở cũng sẽ được miễn trách một phần hoặc toàn bộ
trách nhiệm tới giới hạn nếu chứng minh được là sự lơ là hoặc không làm tròn
trách nhiệm là do hành khách đó. Điều này được sử dụng cho tất cả những điều
khoản trách nhiệm trong Công ước này, kể cả khoản 1 của điều 21.
Điều
21 - Bồi thường trong trường hợp tử vong hoặc thương tích của hành khách
1. Bồi thường cho tổn
thất xảy ra theo khoản 1 của điều 17 không vượt quá 100.000 SDR cho mỗi hành
khách, người chuyên chở không thể loại trừ hoặc giới hạn trách nhiệm của mình.
2. Người chuyên chở không chịu trách nhiệm cho tổn thất xảy ra theo khoản 1 điều
12 tới giới hạn mà nó vượt quá 100.000 SDR cho mỗi hành khách nếu người chuyên
chở chứng minh được rằng:
(a) Tổn thất đó không
phải do sự lơ là hoặc hành động sai trái khác hoặc không làm tròn trách nhiệm của
người chuyên chở hay nhân công hoặc đại lý của người chuyên chở
(b) Tổn thất đó là do sự
lơ là hoặc không làm tròn trách nhiệm của mình bên thứ ba gây nên Điều 22 - Giới
hạn trách nhiệm đối với việc hoãn chuyên chở, hành lý và hàng hóa 1. Trong trường
hợp tổn thất gây nên bởi sự hoãn chuyên chở đã nêu trong điều 19 đối với chuyên
chở hành khách, trách nhiệm của người chuyên chở được giới hạn là 4.150 SDR cho
mỗi hành khách
2. Trong trường hợp
chuyên chở hành lý, trách nhiệm của người chuyên chở trong trường hợp hư hại, mất
mát hoặc tổn thất hay hoãn chuyên chở giới hạn là 1.000 SDR cho mỗi hành khách
trừ khi hành khách đã hoàn thành một bản ghi chú lãi suất khi vận chuyển tới
đích và trả một khoản tiền bổ sung trong trường hợp cần thiết khi hành lý đã kê
khai được giao cho người chuyên chở. Trong trường hợp đó người chuyên chở có
trách nhiệm trả một khoản tiền không vượt quá khoản tiền đã công bố trước, trừ
khi người chuyên chở chứng minh được số tiền đó lớn hơn lãi suất thực tế của
hành khách khi vận chuyển tới đích.
3. Trong quá trình
chuyên chở hàng hóa, trách nhiệm của người chuyên chở trong trường hợp hư hại,
mất mát hoặc tổn thất tới hàng hóa giới hạn là 17 SDR/kg, trừ khi người gửi
hàng đã hoàn thành một bản ghi chú lãi suất khi vận chuyển tới đích và trả một
khoản tiền bổ sung trong trường hợp cần thiết khi hành lý đã kê khai được giao
cho người chuyên chở. Trong trường hợp đó người chuyên chở có trách nhiệm trả một
khoản tiền không vượt quá khoản tiền đã công bố trước, trừ khi người chuyên chở
chứng minh được số tiền đó lớn hơn lãi suất thực tế của người gửi hàng khi vận
chuyển tới đích.
4. Trong trường hợp hư
hại, mất mát, tổn thất hoặc hoãn chuyên chở đối với một phần hàng hóa, hoặc bất
cứ vật thể nào chứa trong đó, trọng lượng được xem xét trong việc xác định số
lượng trong giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở sẽ chỉ là tổng trọng lượng
toàn phần của kiện hàng hoặc những kiện hàng liên quan. Tuy nhiên, nếu sự hư hại,
mất mát, tổn thất hoặc hoãn chuyên chở một phần của hàng hóa hoặc của vật thể
chứa trong đó, ảnh hưởng tới giá trị của các kiện hàng khác được ghi ở trên
cùng một vận đơn hàng không, hoặc trên cùng một biên lai hay, nếu chúng không
được đưa ra, bằng một biên bản tương tự được lưu giữ theo những cách thức được
nhắc tới trong khoản 2 điều 4, thì tổng trọng lượng của kiện hàng đó hoặc những
kiện hàng đó cũng được tính vào trong lượng xem xét để xác định giới hạn trách
nhiệm
5. Khoản 1 và khoản 2
đã đề cập đến của điều này không được áp dụng nếu chứng minh được rằng tổn thất
gây ra là do hành động hoặc sự thiếu trách nhiệm của người chuyên chở, nhân
công hoặc đại lý của người chuyên chở, cố ý gây hại hoặc thiếu thận trọng mà biết
được tổn thất sẽ xảy ra; miễn là, trong trường hợp hành động như vậy hay thiếu
trách nhiệm của nhân công hay đại lý đó cũng được chứng minh là hành động trong
phạm vi thực hiện trong công việc.
6. Những giới hạn bắt
buộc trong điều 21 và trong điều này không loại trừ việc tòa án phạt theo luật,
ngoài ra theo luật pháp riêng đó, toàn bộ hoặc một phần của chi phí xét xử và
các chi phí khác của vụ kiện sẽ do nguyên đơn chịu, kể cả lãi suất. Điều khoản
đã đề cập trước không áp dụng nếu phần tổn thất được mang ra xét xử, không bao
gồm chi phí xét xử và những chi phí khác của vụ kiện, không vượt quá tổng số mà
người chuyên chở đã yêu cầu bằng văn bản đối với nguyên đơn trong vòng sáu
tháng kể từ ngày xảy ra tổn thất, hoặc trước sự bắt đầu của vụ kiện nếu vụ kiện
xảy ra sau.
Điều
23 - Chuyển đổi đơn vị tiền tệ
1. Tiền tệ được đề cập ở
trên xét theo Quyền rút vốn đặc biệt trong Công ước sẽ được cho là ngụ ý đến
Quyền rút vốn đặc biệt được định nghĩa bởi Quỹ tiền tệ quốc tế. Chuyển đổi tiền
tệ thành đồng tiền quốc gia, trong trường hợp có thủ tục pháp lý, được thực hiện
theo giá trị của những đồng tiền đó xét theo Quyền rút vốn đặc biệt vào ngày
phán quyết. Giá trị của đồng tiền quốc gia, xét theo Quyền rút vốn đặc biệt, của
một nước thành viên tham gia IMF, sẽ được tính theo phương pháp định giá được
áp dụng bởi IMF, có hiệu lực từ ngày phán quyết, cho hoạt động và giao dịch.
Giá trị của đồng tiền quốc gia, theo SDR, của một quốc gia mà ko phải là thành
viên của IMF, sẽ được tính theo phương pháp được quyết định bởi quốc gia đó.
2. Tuy nhiên, những quốc
gia không phải thành viên của IMF mà luật pháp không cho phép áp dụng các quy định
của khoản 1 điều này, vào thời điểm thông qua hoặc thừa nhận hoặc bất kỳ thời
điểm nào về sau, tuyên bố về giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở quy định
trong điều 21 được ấn định số tiền là 1500000 đơn vị tiền tệ mỗi hành khách
trong khung pháp lý của nước ( hoặc vùng lãnh thổ ) họ. 62,500 đơn vị tiền tệ mỗi
hành khách xét trong khoản 1 điều 22. 15000 đơn vị tiền tệ mỗi hành khách theo
khoản 2 điều 22, và 250 đơn vị tiền tệ mỗi kilogam theo khoản 3 điều 22. Đơn vị
tiền tệ này tương ứng 65 và ½ miligam vàng 900‰ nguyên chất.Số tiền đó sẽ được
chuyển thành tiền tệ quốc gia và được làm tròn số. Việc chuyển đổi số tiền này
được thực hiện theo luật của quốc gia liên quan.
3. Cách tính được đề cập
trong câu cuối tại khoản 1 điều này và phương pháp chuyển đổi đã đề cập tại khoản
2 điều này sẽ được thực hiện theo cách thức đó để đồng tiền của quốc gia thành
viên thể hiện sự tương đương giá trị càng nhiều càng tốt theo điều 21 và 22 là
kết quả của việc áp dụng ba câu đầu tiên tại khoản 1 điều này. Các quốc gia phải
thông báo cho cơ quan lưu trữ cách thức tính toán theo khoản 1 điều này, hoặc kết
quả của việc chuyển đổi tại khoản 2 điều này, có thể như trường hợp, khi gửi
văn bản phê chuẩn thông qua, chấp thuận, tán thành hoặc gia nhập Công ước này
và bất cứ khi nào có sự thay đổi trong cả hai.
Điều
24 - Xem xét giới hạn trách nhiệm
1. Không ảnh hưởng đến
các quy định tại điều 25 của Hiệp định này và tuân theo khoản 2 dưới đây, giới
hạn trách nhiệm được quy định trong điều 21, 22, và 23 sẽ được xem xét bởi Cơ
quan lưu trữ trong khoảng thời gian 5 năm, việc xem xét đầu tiên diễn ra vào cuối
năm thứ năm sau ngày Công ước này có hiệu lực,hoặc nếu Công ước không có hiệu lực
trong vòng 5 năm kể từ ngày đầu tiên được ký kết, trong năm đầu tiên có hiêu lực,
bằng cách tham chiếu đến một hệ số lạm phát tương ứng với tỷ lệ lạm phát tích
lũy từ các phiên bản trước hoặc trong trường hợp đầu tiên, kể từ ngày có hiệu lực
của Công ước. Đo lường tỷ lệ lạm phát được sử dụng trong việc xác định các hệ số
lạm phát sẽ là tăng hoặc giảm bình quân gia quyền của các giá cả hàng năm trong
chỉ số giá tiêu dùng của các quốc gia có đồng tiền gồm đồng SDR được nhắc tới tại
khoản 1 điều 23.
2. Nếu xem xét lại theo
khoản trên kết luận rằng các hệ số lạm phát đã vượt quá 10%.Cơ quan lưu trữ sẽ
thông báo cho các quốc gia thành viên một bản sửa đổi giới hạn trách nhiệm. Bất
kỳ sửa đổi như vậy sẽ có hiệu lực sáu tháng sau khi thông báo tới các quốc gia
thành viên. Nếu trong vòng 3 tháng sau khi thông báo, đa số các quốc gia thành
viên không chấp thuận, việc sửa đổi sẽ không có hiệu lực và Cơ quan lưu trữ sẽ
tổ chức một cuộc họp giữa các quốc gia thành viên. Cơ quan lưu trữ sẽ ngay lập
tức thông báo cho tất các các nước thành viên hiệu lực sắp tới của bất kỳ sửa đổi
nào.
3. Mặc dù khoản 1 điều
này, các thủ tục chiểu theo khoản 2 điều này được áp dụng tại bất kỳ thời điểm
nào mà một phần ba số quốc gia thành viên bày tỏ mong muốn có hiệu lực và với
điều kiện rằng các hệ số lạm phát được nêu tại khoản 1 đã vượt quá 30% kể từ
phiên bản trước hoặc kể từ ngày có hiệu lực của Công ước này nếu chưa có phiên
bản trước đó. Xem xét tiếp theo áp dụng các thủ tục nêu tại khoản 1 điều này
này sẽ diễn ra trong khoảng thời gian năm năm bắt đầu vào cuối năm thứ 5 tính từ
ngày xem xét điều khoản hiện tại.
Điều
25 - Quy định về giới hạn trách nhiệm
Người chuyên chở có thể
quy định rằng hợp đồng chuyên chở ràng buộc với giới hạn trách nhiệm cao hơn so
với những gì đã được lập ra trong Công ước hoặc không giới hạn về bất cứ trách
nhiệm nào. Điều 26 - Sự vô hiệu của các điều khoản hợp đồng Bất cứ điều khoản
nào có xu hướng làm giảm trách nhiệm của người chuyên chở hoặc định ra giới hạn
thấp hơn so với những điều đã được quy định trong Công ước sẽ bị vô hiệu, nhưng
sự vô hiệu của bất kỳ điều khoản nào không liên quan đến sự vô hiệu của toàn bộ
hợp đồng, hợp đồng vẫn tuân theo các điều khoản của Công ước.
Điều
27 - Tự do giao kết hợp đồng
Không có điều gì được
bao gồm trong Công ước này có thể cản trở người chuyên chở từ chối ký kết bất cứ
hợp đồng chuyên chở nào, hoặc khước từ những biện pháp bảo vệ sẵn có theo Công
ước, hoặc đặt ra các điều kiện không mâu thuẫn với các điều khoản trong Công ước
này.
Điều
28 - Thanh toán trước
Trong trường hợp các
tai nạn hàng không dẫn đến cái chết hoặc thương tật của các hành khách, nếu được
quy định trong luật quốc gia, người chuyên chở phải bồi thường không được chậm
trễ cho cá nhân hoặc những người được quyền đòi bồi thường để đáp ứng nhu cầu
kinh tế trước mắt của những người đó. Số tiền trả trước đó không gây nên một sự
công nhận trách nhiệm và có thể được bù đắp vào số tiền trả bồi thường thiệt hại
của người vận chuyển.
Điều
29 - Cơ sở khiêu nại
Trong chuyên chở hành
khách, hành lý và hàng hoá, bất cứ hành vi nào gây thiệt hại, tuy nhiên được
phát hiện, dù có theo Công ước này hoặc trong hợp đồng hoặc việc làm sai trái
hoặc các hành vi khác, có thể chỉ được mang lại vấn đề theo điều kiện và giới hạn
trách nhiệm đó được quy định trong Công ước này mà không phương hại đến yêu cầu
của người có quyền khởi kiện và các quyền tương ứng. Bất cứ hành động nào đó,
nhằm trừng phạt, để cảnh cáo hay bất kỳ thiệt hại nào không bồi thường sẽ không
được phục hồi.
Điều
30 - Nhân viên, đại lý - tập hợp khiếu nại
1. Nếu một hành động được
gây ra đối với nhân viên hay đại lý của người chuyên chở phát sinh gây thiệt hại
cho những gì liên quan đến Công ước, những nhân viên và đại lý đó, nếu chứng
minh được họ hành động trong phạm vi công việc của mình, sẽ có quyền sử dụng
các điều kiện và giới hạn trách nhiệm mà người chuyên chở có quyền để dẫn chứng
theo Công ước này.
2. Tổng số lượng tiền có thể thu lại từ người
chuyên chở,nhân viên hoặc đại lý của họ,trong trường hợp này, sẽ không vượt quá
giới hạn đã nói đến từ trước.
3. Trừ việc vận chuyển
hàng hoá, các quy định của khoản 1 và 2 trong điều này sẽ không áp dụng nếu chứng
minh được rằng thiệt hại gây ra từ một hành vi hay thiếu sót của nhân viên hay
đại lý gây ra với mục đích gây ra thiệt hại hoặc thiếu thận trọng dù biết rằng
thiệt hại sẽ có thể xảy ra
Điều
31 - Thông báo khiếu nại kịp thời
1. Biên lai bởi người
có quyền giao hành lý ký gửi hoặc hàng hoá mà không có khiếu nại là bằng chứng
đầu tiên chứng tỏ đồ vật trên đã được giao trong tình trạng tốt và phù hợp với
chứng từ vận chuyển hoặc với biên bản lưu trữ bằng phương tiện khác được nêu ở
khoản 2 điều 3 và khoản 2 điều 4.
2. Trong trường hợp thiệt
hại, người có quyền giao hàng phải khiếu nại với người chuyên chở ngay sau khi
phát hiện thiệt hại, và, chậm nhất, trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận hoá đơn
trong trường hợp hành lý ký gửi, và 14 ngày kể từ ngày nhận hoá đơn nếu là hàng
hoá. Trường hợp chậm trễ, khiếu nại phải được thực hiện muộn nhất trong vòng 21
ngày kể từ ngày hành lý hoặc hàng hoá đặt dưới sự định đoạt của người đó
3. Tất cả khiếu nại phải được thực hiện bằng
văn bản và được xuất trình, hoặc gửi đi trong thời gian đã nói đến ở trên.
4. Nếu không có khiếu nại
nào được tiến hành trong thời gian đã nói đến ở trên, sẽ không có khiếu nại nào
đối với người chuyên chở, trừ trường hợp người chuyên chở có gian lận trong quá
khứ.
Điều
32. Cái chết của người có trách nhiệm
Trong trường hợp cái chết
của người có trách nhiệm, một hành vi bồi thường thiệt hại sẽ được đề ra đúng với
với điều khoản của Công ước này đối với người đại diện hợp pháp về tài sản của
người đã chết.
Điều
33. Thẩm quyền xét xử
1. Một hành động gây thiệt hại phải bị xét xử,
theo quyền lựa chọn của người khởi kiện, trong lãnh thổ của một trong các nước
thành viên,hoặc trước toà án tại cơ sở của người chuyên chở, hoặc địa điểm kinh
doanh chính, hoặc địa điểm kinh doanh qua đó hợp đồng được thực hiện hoặc trước
toà án tại nơi đến.
2. Về thiệt hại phát
sinh từ cái chết hoặc bị thương của hành khách, một hành vi có thể bị xét xử tại
một trong các toà án được đề cập ở khoản 1 điều này, hoặc trong lãnh thổ của một
nước thành viên, nơi mà tại thời điểm tai nạn,hành khách cư trú chính và thường
xuyên và điểm đến hoặc điểm đi của hãng vận chuyển hoạt động dịch vụ vận chuyển
hành khách bằng đường hàng không, cả trên tàu bay riêng của mình hoặc máy bay của
hãng khác theo một hợp đồng thương mại, và tại đó hãng quản lý việc kinh doanh
vận chuyển hành khách bằng đường hàng không từ cơ sở cho thuê hoặc sở hữu của
riêng mình hoặc của những hãng chuyên chở khác với hợp đồng thương mại.
3. Nhằm mục đích của
khoản 2:
(a) "Hợp đồng
thương mại" nghĩa là một hợp đồng, khác một hợp đồng đại lý, được ký kết
giữa những người chuyên chở liên quan đến việc cung cấp dịch vụ chuyên chở hành
khách bằng đường hàng không chung giữa họ.
(b) "Nơi cư trú
chính và thường xuyên" nghĩa là một nơi ở cố định và chỗ ở thường xuyên của
hành khách tại thời điểm tai nạn. Quốc tịch của hành khách sẽ không phải yếu tố
xác định trong vấn đề này.
4. Các vấn đề về thủ tục
sẽ được điều chỉnh bởi tòa án thụ lý vụ việc.
Điều
34 - Trọng tài
1. Đối với những quy định
trong Điều khoản này, các bên tham gia hợp đồng chuyên chở hàng hóa có thể quy
định rằng, bất kì tranh chấp nào liên quan đến trách nhiệm của người chuyên chở
theo Công ước này sẽ được giải quyết bằng Trọng tài. Thỏa thuận này được làm
thành văn bản.
2. Quá trình xét xử sẽ
diễn ra tại một trong những nơi được chỉ ra tại Điều 33, theo sự lựa chọn của
nguyên đơn.
3. Việc lựa chọn trọng
tài hay thành lập hội đồng trọng tài sẽ phải tuân thủ những quy định của Công ước
này.
4. Những quy định tài Khoản 2 và 3 của Điều
này được coi như là một phần của mọi điều khoản hay thỏa thuận về trọng tài, và
bất kì điều khoản hay thỏa thuận nào về trọng tài mà không tuân thủ các quy định
như trên, thì sẽ trở nên vô hiệu.
Điều
35 - Thời hạn khởi kiện
1. Bên khiếu nại sẽ mất
quyền đối với các khiếu nại nếu không thực hiện trong vòng 2 năm kể từ ngày
hàng đến sân bay đến, hoặc từ ngày máy bay đáng nhẽ phải đến sân bay đến, hay từ
ngày việc chuyên chở bị đình trệ.
2. Cách tính toán thời
hạn này sẽ được quy định bởi luật của toàn án thụ lý giải q uyết tranh chấp.
Điều
36 - Vận tải kế tiếp
1. Trong trường hợp,
hàng hóa được vận chuyển bởi nhiều người vận chuyển kế tiếp, như quy định tại
Khoản 3, Điều 1 của Công ước này, thì mỗi người chuyên chở đã chấp nhận chuyên
chở hành khách, hành lí, hay hành hóa, sẽ phải tuân theo những quy định trong
Công ước này, và được coi như là một trong số các bên tham gia hợp đồng chuyên
chở bằng đường hàng không, miễn là hợp đồng đó có quy định về các chặng chuyên
chở được thực hiện bởi người chuyên chở đó.
2. Trong trường hợp
chuyên chở theo phương thức này, hành khách hay bất kì người nào có quyền thay
mặt hành khách đòi bồi thường, chỉ có thể đòi từ người chuyên chở chịu trách
nhiệm trên chặng chuyên chở có xảy ra tai nạn hoặc chậm trễ, trừ trường hợp,
người vận chuyển đầu tiên đã được quy định là chịu trách nhiệm cho toàn bộ hành
trình bởi một thỏa thuận rõ ràng.
3. Đối với hành lí và hàng hóa, hành khách hoặc
người gửi hàng có quyền khởi kiện người chuyên chở đầu tiên, và hành khách hoặc
người gửi hàng có quyền với hành lí hoặc hàng hóa đó sẽ có quyền khởi kiện người
chuyên chở cuối cùng, và hành khách hoặc người gửi hàng cũng sẽ có quyền khởi
kiện bất kì người chuyên chở nào chịu trách nhiệm chuyên chở trong chặng mà xảy
ra đổ vỡ, mất mát, tổn thất hay chậm trễ. Những người chuyên chở này sẽ chịu
trách nhiệm liên đới cho hành khách, người gửi hàng hoặc người nhận hàng.
Điều
37 - Quyền truy đòi người thứ ba
Không quy định nào
trong Công ước này gây ảnh hưởng xấu đến quyền của người chịu trách nhiệm về tổn
thất theo các điều khoản của Công ước truy đòi từ bất kì người thứ ba nào.
CHƯƠNG
IV - VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC
Điều
38 - Vận tải đa phương thức
1. Trong trường hợp vận
tải đa phương thức mà một phần hành trình sử dụng phương thức vận chuyển bằng
đường hàng không, và một phần sử dụng bởi bất kì phương thức vận tải nảo khác,
thì theo Khoản 4, Điều 18, những quy định của Công ước này sẽ chỉ áp dụng cho
quãng đường chuyển chở vận tải hàng không, miễn là việc chuyên chở bằng đường
hàng không này phù hợp với những quy định trong Điều 1.
2. Không quy định nào
trong Công ước này có thể gây ảnh hưởng xấu đến việc các bên vận tải đa phương
thức bổ sung những điều khoản bằng văn bản quy định về chặng vận tải bằng đường
hàng không, miễn là những quy định trong Công ước này sẽ được áp dụng khi đề cập
đến chặng vận chuyển bằng đường hàng không đó.
CHƯƠNG
V - VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG ĐƯỢC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỞI MỘT NGƯỜI KHÔNG
CÓ TRONG HỢP ĐỒNG CHUYÊN CHỞ
Điều
39 - Người chuyên chở theo hợp đồng - Người chuyên chở thực tế
Những điều khoản của
Chương này được áp dụng chủ yếu khi một người (dưới đây được gọi là “Người
chuyên chở theo hợp đồng”) kí kết một hợp đồng chuyên chở được điều chỉnh bởi
Công ước này với một khách hàng, một người gửi hàng, hay với một người thay mặt
hành khách hay người gửi hàng, và một người khác nữa (dưới đây gọi là “Người gửi
hàng thực tế”) được ủy quyền từ người chuyên chở theo hợp đồng để thực hiện một
phần hay toàn bộ việc chuyên chở, nhưng phần chuyên chở này không được xem là một
người chuyên chở kế tiếp, theo cách hiểu của Công ước này. Sự ủy quyền này sẽ
không được coi là bằng chứng với bên đối lập.
Điều
40 - Trách nhiệm của người chuyên chở theo hợp đồng và người chuyên chở thực tế
Theo hợp đồng như được quy định tại Điều 39, nếu
một người chuyên chở thực tế thực hiện toàn bộ hay một phần hành trình chuyên
chở mà được điều chỉnh bởi Công ước này, trừ khi được quy định khác với chương
này thì cả người chuyên chở theo hợp đồng và người chuyên chở thực tế sẽ tuân
theo Công ước này, người chuyên chở theo hợp đồng sẽ chịu trách nhiệm cho toàn
bộ hành trình chuyên chở được ghi trong hợp đồng, và người chuyên chở thực tế
chỉ chịu trách nhiệm với chặng chuyên chở thực hiện.
Điều
41 - Trách nhiệm chung
1. Những hành vi và sơ
suất của người gửi hàng thực tế, và của nhân viên và đại lý của người này trong
phạm vi công việc của họ liên quan đến trách nhiệm chuyên chở của người gửi
hàng thực tế, cũng sẽ được coi là hành vi và sơ suất của người gửi hàng theo hợp
đồng.
2. Những hành vi và sơ
suất của người gửi hành theo hợp đồng và nhân viên hay đại lý của người này
trong phạm vi công việc của họ liên quan đến trách nhiệm chuyên chở của người gửi
hàng thực tế, cũng sẽ được coi là hành vi và sơ suất của người gửi hàng thực tế.
Tuy nhiên, không có hành vi hay sơ suất nào như trên mà người gửi hàng thực tế
phải chịu trách nhiệm quá khoản tiền được quy định tại Điều 21, 22, 23 và 24. Bất
kì thỏa thuận đặc biệt nào không được quy định trong Công ước mà người gửi hàng
theo hợp đồng bắt buộc phải tuân theo hay bất kì một sự khước từ về quyền lợi
hay sự tự vệ nào theo quy định của Công ước hay bất kì một tuyên bố lợi ích nào
tại cảng đến trong việc vận chuyển hàng hóa như được quy định trong Điều 22 sẽ
không được áp dụng cho người gửi hàng thực tế, trừ khi đã được đồng ý bởi người
gửi hàng thực tế.
Điều
42 - Người nhận khiếu nại và hướng dẫn
Bất kì khiếu nại hay hướng
dẫn nào được gửi đến người chuyên chở, theo Công ước này, sẽ có hiệu lực như
nhau bất kể người nhận là người gửi hàng theo hợp đồng hay là người gửi hàng thực
tế. Tuy nhiên, những hướng dẫn như được quy định tại Điều 12 sẽ chỉ có hiệu lực
nếu được gửi đến cho người gửi hàng theo hợp đồng. Điều 43 - Nhân viên và đại
lí Đối với phần trách nhiệm chuyên chở của người gửi hàng thực tế, nếu như chứng
minh được rằng mình làm đúng nghĩa vụ của mình, thì bất kì nhân viên hay đại lí
nào của người này hay của người gửi hàng theo hợp đồng sẽ có quyền hưởng với
người chuyên chở của họ những điều kiện và phạm vi trách nhiệm được áp dụng
trong Công ước này trừ khi họ chứng minh rằng họ đã làm không đúng với trách
nhiệm được quy định trong Công ước này.
Điều
44 - Giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất
Theo Công ước này, đối
với phần trách nhiệm chuyên chở của người gửi hàng thực tế, tổng số tiền có thể
bồi hoàn lại của người chuyên chở này và người chuyên chở theo hợp đồng, và từ
những nhân viên và đại lí của họ hành động trong phạm vi công việc của mình, sẽ
không được vượt quá số tiến tối đa được hưởng của người gửi hàng theo hợp đồng
hoặc người gửi hàng thực tế, nhưng không ai trong số những người được đề cập ở
trên sẽ phải chịu trách nhiệm cho số tiền vượt quá số tiền được hưởng của từng
người.
Điều
45 - Người nhận khiếu nại
Đối với phần trách nhiệm
chuyên chở của người gửi hàng thực tế, một hành động gây tổn thất có thể được
khiếu nại người chuyên chở thực tế, hay người chuyên chở theo hợp động hay người
cả hai người trên cùng lúc hoặc riêng biệt tùy theo nguyên đơn lựa chọn. Nếu
hành động gây tổn thất này khiếu nại chỉ một trong số hai người chuyên chở này,
thì người chuyên chở đó sẽ có quyền yêu cầu người chuyên chở còn lại cùng tham
gia vào thủ tục khiếu nại, quy trình và mức độ ảnh hưởng của khiếu nại sẽ được
điều chỉnh bở luật tại nơi có tòa án thụ lí vụ việc.
Điều
46 - Phạm vi pháp lí mở rộng
Bất kì hành động gây tổn
thất nào được chỉ ra tại Điều 45 sẽ phải được khiếu nại tại quốc gia của một
trong số các bên của Hợp đồng, do nguyên đơn lựa chọn trước khi được đưa ra tòa
án khiếu nại người chuyên chở theo hợp đồng, như được quy định trong Điều 33,
hoặc trước khi đưa ra tòa án có thẩm quyền tại nơi cứ trú, hoặc địa bàn hoạt động
kinh doanh chính của người chuyên chở thực tế.
CHƯƠNG
VI - CÁC ĐIỀU KHOẢN KHÁC
Điều
49 - Áp dụng bắt buộc
Bất kỳ điều khoản nào
trong hợp đồng chuyên chở và tất cả các thỏa thuận đặc biệt được ghi vào trước
khi xảy ra thiệt hại, mà các bên vi phạm quy tắc được Công ước đặt ra một cách
có chủ đích, dù được điều chỉnh bởi luật áp dụng, hay thay đổi luật theo thẩm
quyền, cũng sẽ không có hiệu lực.
Điều
50 - Bảo hiểm
Các nước thành viên phải
yêu cầu người chuyên chở của họ cung cấp bảo hiểm đầy đủ trong trách nhiệm của
họ theo Công ước này. Một người chuyên chở có thể bị quốc gia thành viên của
Công ước yêu cầu cung cấp bằng chứng cho thấy họ có thực hiện bảo hiểm đầy đủ
trong phạm vi trách nhiệm của mình theo Công ước này.
Điều
51 - Việc vận chuyển được thực hiện trog hoàn cảnh đặc biệt
Các khoản mục thuộc Điều 3 tới 5, 7 và 8 liên
quan tới chứng từ chuyên chở sẽ không được áp dụng trong trường hợp việc vận
chuyển được thực hiện trong hoàn cảnh đặc biệt ngoài phạm vi trách nhiệm thông
thường của người chuyên chở.
Điều
52 - Xác định thời gian
Khái niệm “ngày” được sử
dụng trong công ước này dùng để chỉ ngày theo lịch, không phải ngày làm việc.
CHƯƠNG
VII - CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
Điều
53 - Chữ ký, phê chuẩn và điều kiện hiệu lực
1. Công ước này sẽ được mở để cho việc kí kết
tại Montreal vào ngày 28 tháng 5 năm 1929 bởi các quốc gia tham gia vào Hội nghị
quốc tế về luật hàng không được tổ chức tại Montreal từ ngày 10 tới ngày 28
tháng 5 năm 1999. Sau ngày 28 tháng 5 năm 1999, Công ước sẽ được mở cho tất cả
các quốc gia ký kết tại trụ sở của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ở
Montreal cho tới khi có hiệu lực theo khoản 6 của điều này.
2. Tương tự, công ước
này cũng sẽ được mở cho các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực ký kết. Theo công
ước này, một “Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực” được hiểu là bất kỳ tổ chức nào
được thành lập bởi các quốc gia có chủ quyền của một vùng lãnh thổ nhất định,
có thẩm quyền đối với các vấn đề nhất định được điều chỉnh bởi Công ước này và
đã được trao quyền ký kết, phê chuẩn, chấp nhận hoặc gia nhập Công ước. Tương
quan với “một quốc gia thành viên” hoặc “các quốc gia thành viên” trong Công ước
này, trừ quy định tại khoản 2 điều 1, khoản 1(b) điều 3, khoản (b) điều 5, điều
23, 33, 46 và khoản (b) điều 57, áp dụng tương tự với tổ chức hội nhập kinh tế
khu vực. Theo điều 24, các trường hợp tương tự của “đa số các quốc gia thành
viên” và “một phần ba các quốc gia thành viên” sẽ không được áp dụng đối với Tổ
chức hội nhập kinh tế khu vực.
3. Công ước này sẽ là bắt
buộc đối với các quốc gia và các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực khi đã ký.
4. Bất kỳ quốc gia hoặc
tổ chức hội nhập kinh tế khu vực nào không ký vào công ước có thể chấp nhận,
phê duyệt hoặc gia nhập bất cứ lúc nào.
5. Văn kiện phê chuẩn,
chấp thuận hoặc gia nhập sẽ được lưu lại bởi Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế,
mà sau đây sẽ được gọi là Cơ quan lưu chiểu.
6. Công ước này sẽ có
hiệu lực vào ngày thứ 60 kể từ ngày Cơ quan lưu chiểu lưu văn kiện thứ 30 của sự
thông qua, phê chuẩn, chấp thuận, hoặc thừa nhận giữa các quốc gia thành viên
đã được lưu chiếu trong văn kiện. Một văn kiện đã được lưu bởi Tổ chức hội nhập
kinh tế khu vực sẽ không được tính vào trong điều khoản này.
7. Đối với các quốc gia
và các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực khác, công ước này sẽ có hiệu lực sáu
mươi ngày sau ngày lưu chiểu của văn kiện thông qua, phê chuẩn, chấp thuận hoặc
thừa nhận.
8. Cơ quan lưu chiểu sẽ
nhanh chóng thông báo cho các bên ký kết và các quốc gia thành viên về:
(a) Mỗi chữ ký vào bản
công ước và thời điểm ký;
(b) Mỗi bản lưu chiểu của
một văn kiện thông qua, phê chuẩn, chấp thuận hoặc thừa nhận và thời điểm của
nó;
(c) Thời điểm hiệu lực
của công ước;
(d) Thời điểm có hiệu lực của bất kỳ điều chỉnh
nào về giới hạn trách nhiệm được quy định bởi công ước này;
(e) Bất kỳ tuyên bố bãi bỏ công ước nào theo
Điều 54. Điều 54 - Tuyên bố bãi ước 1. Bất cứ quốc gia thành viên nào đều có thể
bãi bỏ Công ước này bằng văn bản thông báo tới Cơ quan lưu chiểu.
2. Tuyên bố bãi ước sẽ
có hiệu lực sau 180 ngày kể từ ngày Cơ quan lưu chiểu nhận được thông báo.
Điều
55 - Mối quan hệ với các văn kiện của công ước Vacsava
Công ước này sẽ được ưu
tiên hơn so với các luật lệ khác áp dụng cho vận chuyển hàng không quốc tế:
1. Giữa các quốc gia thành viên của Công ước
này mà đồng thời là thành viên của:
(a) Công ước về Thống
nhất một số quy tắc liên quan đến vận chuyển hàng không quốc tế được ký ở
Vacsava vào ngày 12 tháng 10 năm 1929 (từ đây về sau gọi là Công ước Vacsava);
(b) Nghị định thư sửa đổi
Công ước về Thống nhất một số quy tắc liên quan đến vận chuyển hàng không quốc
tế tại Vácxava vào ngày 12/10/1929, được lập ra tại Hague vào ngày 28 tháng 9
năm 1955 (từ đây về sau gọi là Nghị định thư Hague);
(c) Công ước bổ sung
Công ước Vácxava để Thống nhất một số quy tắc liên quan đến vận chuyển hàng
không quốc tế thực hiện bởi một người khác không phải là người chuyên chở theo
hợp đồng, kí tại Guatdalajra vào ngày 18 tháng 9 năm 1961 (từ đây về sau gọi là
Công ước Guatdalajra);
(d) Nghị định thư sử đổi
Công ước Vacsava 12/10/1929 đã được sửa đổi bởi Nghị định thư Hague 28/9/1955,
kí tại thành phố Guatemala vào ngày 8 tháng 3 năm 1971 (từ đây về sau gọi là
Nghị định thư thành phố Guatemala);
(e) Nghị định thư bổ
sung số 1 đến 3 và Nghị định thư Montreal số 4 sửa đổi Công ước Vacsava đã được
sửa đổi bởi Nghị định thư Hague hoặc Công ước Vacsava đã được sửa đổi bởi cả
Nghị định Hague và Nghị định Thành phố Guatemala, kí tại Montreal vào ngày 25
tháng 9 năm 1975 (từ đây về sau gọi là nghị định thư Montreal); hoặc
2. Trong phạm vi lãnh
thổ của bất cứ quốc gia thành viên nào của Công ước này mà tham gia vào một hoặc
nhiều hơn một trong các văn kiện đã nhắc tới trong các phần (a) đến (e) ở trên.
Điều 56 - Các quốc gia có nhiều hơn một hệ thống pháp luật 1. Nếu một quốc gia
có hai khu vực lãnh thổ trở lên trong đó có nhiều hệ thống luật pháp khác nhau
được áp dụng có liên quan đến các vấn đề được đề cập tới bởi Công ước này, thì
tại thời điểm kí kết, thông qua, chấp nhận ,phê chuẩn hoặc gia nhập, quốc gia
đó phải tuyên bố rằng Công ước này sẽ có hiệu lực với tất cả các khu vực hoặc với
chỉ một hoặc một số khu vực lãnh thổ của nước đó , và có thể sửa đổi tuyên bố
này bằng cách đưa ra một tuyên bố mới vào bất kỳ thời điểm nào. 2. Mọi tuyên bố
như vậy phải được thông báo cho Cơ quan lưu chiểu và phải thể hiện rõ ràng Công
ước được áp dụng cho những khu vực lãnh thổ nào.
3. Liên quan tới quốc
gia thành viên đã có tuyên bố như vậy:
(a) tham khảo tại Điều 23 về “đồng tiền quốc
gia” sẽ được hiểu là đồng tiền của khu vực lãnh thổ có liên quan của đất nước
đó; và
(b) tham khảo tại điều
28 về “luật quốc gia” sẽ được hiểu là luật của khu vực lãnh thổ có liên quan của
đất nước đó.
Điều
57 - Giới hạn
Không giới hạn nào được
đặt ra cho công ước này trừ việc một quốc gia thành viên có thể vào bất cứ thời
điểm nào tuyên bố bằng thông báo tới Cơ quan lưu chiểu rằng công ước này sẽ
không được áp dụng đối với:
1. Chuyển chở quốc tế bằng
đường hàng không được thực hiện và điều hành trực tiếp bởi quốc gia thành viên
đó cho các mục đích phi thương mại phục vụ cho chức năng và nhiệm vụ của một quốc
gia có chủ quyền; và/hoặc
2. Việc vận chuyển người,
hàng hóa và hành lý cho các cơ quan quân sự có thẩm quyền của mình trên máy bay
quân sự đã được đăng ký hoặc thuê bởi quốc gia thành viên đó, toàn bộ quyền hạn
của phương tiện đã được dành riêng hoặc đại diện cho cơ quan có thẩm quyền đó.
ĐỂ LÀM CHỨNG, Đại diện
đặc mệnh toàn quyền hợp pháp đã kí vào Công ước này.
ĐƯỢC HOÀN TẤT tại
Montreal vào ngày 28 tháng 5 năm một ngàn chín trăm chín mươi chín bằng tiếng
Anh, tiếng A rập, Trung Quốc, Pháp, Nga và Tây Ban Nha, tất cả văn bản đều đáng
tin cậy như nhau. Công ước này vẫn sẽ được lưu chiểu trong kho lưu trữ của Tổ
chức hàng không dân dụng quốc tế, và các bản sao y sẽ được chuyển giao bởi Cơ
quan lưu chiểu tới các quốc gia thành viên trong Công ước này, cũng như tới tất
cả các quốc gia trong công ước Vacsava, Nghị định Hague, Công ước Guadalajara,
Nghị định thư thành phố Guatemala và nghị định thư Montreal. Được dịch và hiệu
đính tháng 11, năm 2014. 29
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^