SHTT - Sở hữu trí tuệ - BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT KHÁT QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT
KHÁT QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
VÀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
A – LÝ THUYẾT:
1/ Tài sản trí tuệ là gì? Quyền sở hữu trí tuệ
là gì?
Tài sản trí tuệ là gì?
Theo nghĩa
thông dụng, tài sản trí tuệ được hiểu là tất cả các sản phẩm của hoạt động trí
tuệ: các ý tưởng, các tác phẩm sáng tạo văn học/nghệ thuật, các công trình khoa
học, các sáng chế,… phần mềm máy tính… Tài sản trí tuệ là một dạng tài sản vô
hình. Ngoài các đặc tính chung như các dạng tài sản vô hình khác, các tài sản
trí tuệ lại có các đặc tính riêng, đó là tính sang tạo và đổi mới (là một đối
tượng mới được tạo ra hoặc là một đối tượng đã có nhưng được bổ sung cái mới).
Quyền sở hữu trí tuệ là gì?
Quyền sở hữu trí tuệ là
một khái niệm pháp lý nhưng được sử dụng rộng rãi trong cả các lĩnh vực dân sự,
kinh tế - thương mại – đầu tư, hành chính, hình sự - dùng để chỉ quyền của chủ
thể đối với tài sản trí tuệ. Theo tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì
“quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan tới các tác phẩm khoa học,
nghệ thuật và văn học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ, các bản ghi âm
và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt
động của con người; các phát minh khoa học; các kiểu dáng công nghiệp; các nhãn
hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh
tranh không lành mạnh và tất cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ
trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật”[1]
Tại Việt Nam, quyền sở
hữu trí tuệ được định nghĩa theo Bộ luật dân sự 2015 (một cách gián tiếp)[2] và
theo Luật sở hữu trí tuệ 2009 (một cách trực tiếp) như sau: “là quyền của tổ chức,
cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghệp và quyền đối với giống cây trồng”[3] .
Trong đó: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình
sáng tạo ra hoặc sở hữu”; “quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền liên quan)
là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá”;
“quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương
mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền
chống cạnh tranh không lành mạnh”; “quyền đối với giống cây trồng là quyền của
tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và
phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu”[4] .
Như vậy, tại Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ được hiểu gồm bốn loại: (i) quyền
tác giả; (ii) quyền liên quan (đến quyền tác giả); (iii) quyền sở hữu công nghiệp
và (iv) quyền đối với giống cây trồng. Không phải nước nào cũng phân chia quyền
sở hữu trí tuệ như vậy. Chẳng hạn tại nhiều nước và trong nhiều khuôn khổ (Châu
Âu, Tổ chức Thương mại thế giới – WTO, Nhật Bản) có sử dụng khái niệm “quyền sở
hữu công nghiệp” và coi quyền đối với giống cây trồng cũng là một bộ phận của
quyền sở hữu công nghiệp. Trong khi đó một số nước khác (chẳng hạn: Hoa Kỳ)
không dùng khái niệm này.
2/
Phân tích đặc điểm tính lãnh thổ của
quyền SHTT?
Quyền
Sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm
quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và
quyền đối với giống cây trồng. Và một trong những đặc điểm đặc trưng của quyền
Sở hữu trí tuệ là mang tính lãnh thổ, theo đó quyền sở hữu trí tuệ chỉ được bảo
hộ trong phạm vi lãnh thổ một nước (ví dụ, nước Việt Nam) hoặc trong lãnh thổ một
khu vực (ví dụ, trong lãnh thổ các nước thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ
châu Phi (OAPI)) nơi đăng ký và nhận được sự bảo hộ. Vì vậy, một công ty đã nộp
đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, nhãn hiệu hay kiểu dáng công nghiệp hợp pháp ở thị
trường nội địa và đã được cấp các quyền thì không có nghĩa là quyền sở hữu trí
tuệ đó chỉ được bảo hộ tại quốc gia đã đăng ký mà không mang lại sự bảo hộ ở thị
trường khác, trừ khi các quyền đó đã được đăng ký và được cấp bởi cơ quan sở hữu
trí tuệ quốc gia (hoặc khu vực) của thị trường khác có liên quan.
Trong
lĩnh vực quyền tác giả, để quyền tác giả phát sinh trên cơ sở pháp luật nước
này được bảo hộ ở nước khác, các nước phải ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc
tế về quyền tác giả hoặc cùng nhau chấp nhận bảo hộ quyền tác giả theo nguyên tắc
có đi có lại (ví dụ như Công ước Berne 1886). Tuy nhiên, pháp luật quốc gia nơi
quyền tác giả được bảo hộ sẽ điều chỉnh các nội dung của quyền tác giả như loại
hình tác phẩm được bảo hộ, thời hạn bảo hộ, các quyền nhân thân và quyền tài sản
của tác giả, các chủ sở hữu tác phẩm và các nội dung khác của quyền tác giả.
Không một quốc gia nào có thể thông qua pháp luật nước mình áp đặt việc bảo hộ
quyền tác giả ở một quốc gia khác.
Trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp, phần lớn các quyền sở hữu công nghiệp (trừ Tên
thương mại và Bí mật kinh doanh) chỉ phát sinh khi được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp văn bằng bảo hộ va văn bằng này chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ của quốc
gia đã cấp văn bằng đó. Đối với các đối tượng này, để đạt được sự bảo hộ tại nước
ngoài, chủ sở hữu công nghiệp phải nộp đơn đăng ký bảo hộ tại nước ngoài và chỉ
được bảo hộ khi văn bằng được cấp. Còn đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ mà
quyền sở hữu công nghiệp đối với chúng phát sinh một cách tự động thì chúng
cũng chỉ được bảo hộ trên lãnh thổ 1 quốc gia khi đáp ứng yêu cầu cụ thể của
pháp luật quốc gia đó.
Tính
lãnh thổ của quyền Sở hữu trí tuệ không gây ra xung đột pháp luật. Chính vì vậy
khi nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ, tư pháp quốc tế không nghiên cứu việc lựa
chọn pháp luật nước này hay nước khác dưới góc độ xung đột pháp luật mà chỉ
nghiên cứu việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài.
Các
ngoại lệ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Thứ
nhất, ở một số nước (chủ yếu là những nước có hệ thống pháp luật dựa trên
“thông luật”, như Ôxtrâylia, Ấn Độ,Vương quốc Anh và Hoa Kỳ), nhãn hiệu có thể
được bảo hộ thông qua việc sử dụng. Nghĩa là, khi nhãn hiệu đã được sử dụng
trong lãnh thổ một nước có liên quan, nó sẽ nhận được sự bảo hộ ở một mức độ nhất
định ngay cả khi chưa đăng ký. Tuy nhiên, ngay ở những nước mà nhãn hiệu có thể
được bảo hộ thông qua việc sử dụng thì nhìn chung tốt hơn hết bạn hãy đăng ký
nhãn hiệu vì điều này sẽ mang lại sự bảo hộ mạnh hơn và làm cho việc thực thi
được dễ dàng và ít phiền toái hơn một cách đáng kể.
Thứ
hai, đối với quyền tác giả và quyền liên quan, thì cũng không cần phải đăng ký ở
nước ngoài để nhận được sự bảo hộ. Đối với quyền tác giả, tác phẩm văn học hoặc
nghệ thuật (nhóm tác phẩm kể cả phần mềm máy tính) được bảo hộ tự động ngay khi
tác phẩm được tạo ra, hoặc ở một số nước, ngay khi tác phẩm được định hình dưới
dạng vật chất bất kỳ. Liên quan đến việc bảo hộ ở nước ngoài, một tác phẩm được
công dân hoặc cư dân của một nước là thành viên của Công ước Berne về bảo hộ
tác phẩm văn học và nghệ thuật hoặc thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) tạo ra sẽ được bảo hộ tự động ở tất cả các nước thành viên khác của Công
ước Berne hay WTO.
3/ Phân tích mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền
liên quan đến quyền tác giả.
Khái
niệm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả.
Theo quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều 4 của Luật Sở Hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 quy định:
2. Quyền tác giả là quyền của
tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
3. Quyền liên quan đến quyền tác
giả (sau đây gọi là
quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
mã hóa.
Mối quan hệ giữa quyền tác giả và quyền liên
quan đến quyền tác giả
Quyền tác
giả, quyền liên quan đều thuộc về quyền sở hữu trí tuệ, quyền đối với tài sản
vô hình
Quyền tác giả phát sinh kể từ tác phẩm được sáng tạo và được thể
hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng,
hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay
chưa đăng ký.
Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm,
ghi hình chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
mã hoá được định hình hoặc thực hiện mà không phương hại đến quyền tác giả
Quyền liên quan và quyền tác giả có sự gần gũi nhất định, thể hiện
ở một số đặc điểm chung phân biệt chúng với nhóm quyền sở hữu công nghiệp. Đó
là tính chất sáng tạo, tính nguyên gốc của đối tượng được bảo hộ, tính tự động
của cơ chế xác lập sự bảo hộ….
Đúng như tên gọi của nó, quyền liên quan có mối liên hệ mật thiết
với quyền tác giả mà biểu hiện dễ thấy nhất là việc tác phẩm đã được tác giả
sáng tạo chính là cơ sở để các chủ thể quyền liên quan tiến hành các hoạt động
nghề nghiệp của mình mà từ đó phát sinh các quyền này. Hành vi sáng tạo nghệ
thuật làm phát sinh các quyền mà pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ cho người ca
sĩ chính là việc trình bày các ca khúc đã được sáng tác, với người nhạc công đó
là sự thể hiện những bản nhạc đã được viết bởi các nhà soạn nhạc. Với diễn viên
cũng vậy, dù là trong một vở kịch, một bài múa hay trước máy quay, diễn xuất của
họ không thể không dựa trên một kịch bản có sẵn từ trước, mặc dù kịch bản ấy có
thể chi tiết đến từng lời thoại, động tác hay dành rất nhiều “ đất trống ” cho
người diễn viên tự do ứng biến bằng khả năng diễn xuất của mình. Các nhà sản xuất
băng đĩa càng không có gì để ghi thu lại một khi không có tác phẩm nào để người
biểu diễn có thể trình bày…
Như vậy, quyền tác giả và quyền liên quan sinh về cơ bản khi sản phẩm được định hình. Chủ thể của quyền
tác giả và quyền liên quan là tác giả, diễn viên, ca nhạc công, vũ công, chủ sở
hữu cuộc biểu diễn, tổ chức phát sóng và những người khác theo quy định của Luật
SHTT. Đối tượng của quyền tác giả và quyền liên quan là mọi sản phẩm sáng tạo
trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn, bản ghi âm,
ghi hình, cuộc phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá. những
quy định về quyền tác giả và quyền liên quan được pháp luật Việt Nam quy định
chặt chẽ đầy đủ và phù hợp với các điều ước quốc tế như Công ước Berne bảo hộ
các tác phẩm văn học nghệ thuật, Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm
chống việc sao chép, Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối tín hiệu
mang chương trình truyền qua vệ tinh; các Điều ước quốc tế song phương mà Việt
Nam tham gia. . Do đó, để Luật SHTT phát huy được hiệu quả như mong muốn
cần phải có các nỗ lực to lớn của Nhà nước, toàn xã hội và của các chủ thể quyền
sở hữu trí tuệ trong việc tổ chức thực hiện và áp dụng Luật SHTT.
4/ Cho 03 ví dụ về đối tượng quyền SHTT được bảo hộ
trên thực tế.
Căn
cứ Công báo sở hữu công nghiệp Tập A – Tháng 7 năm 2017 của Cục sở hữu trí tuệ
Việt Nam (Bộ khoa học và công nghệ)
Ví dụ 01:
-
Số bằng độc quyền kiểu dáng
công nghiệp: 30871
-
Số
đơn: 3 – 2016 – 02778
-
Số
phương án yêu cầu bảo hộ: 01
-
Tên
sản phẩm kiểu dáng công nghiệp: Bể lọc trọng lực tự rửa
-
Phân
loại quốc tế kiểu dáng công nghiệp: 23 – 01; 23 – 99
-
Ngày
nộp đơn: 29.12.2016
-
Ngày
công bố đơn: 25.07.2017
-
Tên
và địa chỉ người nộp đơn: CÔNG TY CỔ PHẦN BƠM
CHÂU ÂU (VN)
Số 13G Cao Bá Quát, Phường Điện Biên Phủ, Quận Ba Đình, TP. Hà Nội
-
Tên
của tác giả KDCN: Trần Minh Tuấn (VN)
-
Tên
của người đại diện SHCN: CÔNG TY TNHH SÁNG CHẾ
ACTIP (ACTIP PATENT LIMITED)
-
Ảnh
chụp/hình vẽ kiểu dáng công nghiệp:
-



Ví dụ 02:
-
Số
Đơn: 4 – 2017 – 11434
-
Ngày
nộp đơn: 27.04.2017
-
Ngày
công bố đơn: 25.07.2017
-
Phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu hàng hoá: 26.3.2;
A26.11.9; 26.1.1; 26.1.10
-
Màu
sắc bảo hộ: Da cam, xanh
-
Tên,
địa chỉ người nộp đơn: CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN
VẬN AN TÍN (VN)
Số nhà 989, đường Lê Thanh Nghị, khu 9,
phường Hải Tân, TP Hải Dương, Tỉnh Hải Dương
-
Phân
loại quốc tế sản phẩm và dịch vụ: Nhóm 39: Vận tải
-
Mẫu
nhãn hiệu:

Ví dụ 03:
Sáng chế
-
Tên
sáng chế: HỢP CHẤT ISOINDOLIN DÙNG TRONG ĐIỀU TRỊ
NHIỄM VIRUT VÀ DƯỢC PHẨM CHỨA NÓ
-
Ngày
nộp đơn: 26.07.2015
-
Ngày
công bố đơn: 25.07.2017
-
Tên
và địa của chủ bằng độc quyền sáng chế:
VIIV HEALTHCARE UK LIMITED (GB)
980 Great west road, brentford,
Middlesex, TW8 9GS, United Kingdom
-
Tên
của tác giả: JOHNS, brian, Alvin (US), VELTHUISEN,
Emile, Johann, WEATHERHEAD, Jason, Gordon (US), SUWANDI, Lita (ID), TEMELKOFF,
David (US)
-
Tên
của người đại diện SHCN: CÔNG TY TNHH một thành
viên sở hữu trí tuệ VCCI (VCCI-IP
CO,.LTD)
-
Tóm
tắt sáng chế: Sáng chế đề cập đến hợp chất có
công thức (I) và dược phẩm chứa nó

B – TÌNH HUỐNG:
BÀI TẬP 1:
1/ Theo quy định của pháp luật SHTT, đối tượng quyền
SHTT bao gồm những gì? Nêu cơ sở pháp lý.
Dựa trên quy định
của pháp luật SHTT hiện hànhthì hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ
sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu có phải là đối tượng quyền SHTT hay
không? Vì sao?
Theo
quy định của pháp luật SHTT thì đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ gồm ba nhóm
chính:
Thứ
nhất:
Ø Đối
tượng là quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học;
Ø Đối
tượng là quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm,
ghi hình, chương trình phát song, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã
hóa.
Thứ
hai: nhóm đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu,
tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
Thứ
ba: nhóm đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật
liệu thu hoạch.
Cơ
sở pháp lý: khoản 1 Điều 1 luật sửa đổi bổ sung luật Sở hữu trí tuệ.
Mặc
dù chưa có định nghĩ cụ thể về hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực
phẩm nhưng theo quy định tại mục 2.1 của quy chế tạm thời ban hành kèm theo Quyết
định số 2027/2001/QĐ-BYT thì có đưa ra các yêu cầu đối với thực phẩm chế biến
trong nước như sau:
a) Bản
công bố tiêu chuẩn, kèm theo bản tiêu chuẩn cơ sở do doanh nghiệp ban hành ( có
đóng dấu cảu doanh nghiệp), bao gồm các nội dung: các chỉ tiêu cảm giác, chỉ
tiêu hóa lý, vi sinh vật, kim loại nặng, phụ gia thực phẩm, thời hạn sử dụng,
hướng dẫn sử dụng và bảo quản, quy trình sản xuất;
b) Phiếu
kết quả kiểm nghiệm các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu và vệ sinh an toàn thực phẩm
công bố. Riêng đối với nước khoáng thiên nhiên phải có kết quả xét nghiệm đối với
nguồn nước;
c) Nhãn
hoặc dự thảo nhãn sản phẩm ( có đóng dấu của doanh nghiệp);
d) Tài
liệu xác nhận doanh nghiệp có quyền sử dụng hợp pháp đối tượng sở hữu công nghiệp
đang được bảo hộ (nếu có).
Như
vậy, hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm là tập hợp tài liệu để
chứng minh cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền rằng đối tượng hàng hóa, sản phẩm
của chủ thể kinh doanh đó đạt được các yêu cầu nhất định khi đưa vào lưu thông
trên thị trường. Còn để xem xét hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực
phẩm có phải là đối tượng của SHTT hay không thì còn cần phải xem xét trong mối
liên hệ giữa hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và nhóm đối tượng
quyền tác giả; giữa hồ sơ công bố chất lượng và nhóm đối tượng quyền sở hữu
công nghiệp.
2/ Theo Tòa án
xác định, các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm
đối với 7 loại rượu mà nguyên đơn đang tranh chấp có phải là đối tượng quyền
SHTT hay không? Vì sao Tòa án lại xác định như vậy?
Theo
Tòa án thì hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm không phải là đối
tượng SHTT bởi vì thời điểm đượng sự nộp hồ sơ vào thời gian từ năm 2002 đến
2004 nên khi xác định hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm có
phải là đối tượng SHTT hay không thì phải căn cứ vào BLDS 1995 và có các văn bằng
bảo hộ hay không. Khi đối chiếu với các quy định của BLDS 1995 thì có các quy định
tại Điều 747 về loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, Điều 781 quy định
về các đối tượng sở hữu công nghiệp được nhà nước bảo hộ và Điều 788 quy định
xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo văn bằng bảo hộ thì hồ sơ công bố chất lượng,
vệ sinh, an toàn thực phẩm không phải là đối tượng SHTT. Ngoài ra thì ông Trí
cũng không có các văn bằng bảo hộ được cấp bởi Cơ quan có thẩm quyền.
3/ Quan điểm của
tác giả bình luận có cho rằng hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an
toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu là đối tượng của quyền tác giả hay quyền sở
hữu công nghiệp không? Lập luận của tác giả như thế nào?
Khi
xét hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm có phải là đối tượng
SHTT hay không thì tác giả xét trên các phương diện.
Thứ
nhất: quyền tác giả
Một
tác phẩm muốn được bảo hộ thì tác phẩm đó phải đáp ứng các điều kiện sau:
1) Nội
dung không vi phạm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại
cho an ninh quốc phòng;
2) Được
thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định;
3) Có
tính nguyên gốc nghĩa là không sao chép, không bắt trước tác phẩm khác.
Bên
cạnh đó có quy định về các loại hình được bảo hộ tại Điều 14 Luật SHTT và trong đó không có hồ sơ công bố
chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm. Do đó hồ sơ công bố chất lượng, vệ
sinh, an toàn thực phẩm không là đối tượng quyền tác giả.
Thứ
hại: quyền sở hữu công nghiệp
Trong
quyền sở hữu công nghiệp hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm
có thể có mối liên hệ với bí mật kinh doanh và sáng chế.
Đối
với bí mật kinh doanh được bảo hộ khi đáp ứng đủ các điều kiện đó là (1) thông
tin chưa được biết đến rộng rãi và không dễ dàng có được qua những cách thức thích hợp bởi những người
khác trong phạm vi liên quan; (2) tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi
thế so với người không nắm giữ bí mật kinh doanh đó; (3) thông tin đó phải được
bảo mật. Trong đó hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm không đảm
bảo được yếu tố bí mật này nên hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực
phẩm không được xem là bí mật kinh doanh và đương nhiên không phải là đối tượng
SHTT.
Đối
với sáng chế thì điều quan trọng là tính mới nhưng trong khi đó hồ sơ công bố
chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm lại không đáp ứng đươc tiêu chí tính mới
nên hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm không là sáng chế
đương nhiên cũng không là đối tượng SHTT.
Từ
những phân tích trên thì tác giả khẳng định hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh,
an toàn thực phẩm không phải quyền tác giả và cũng không phải quyền sở hữu công
nghiệp.
4/ Theo quan
điểm của bạn, hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm
đối với 7 loại rượu đang tranh chấp trong tình huống nêu trên có là đối tượng của
quyền SHTT hay không? Giải thích vì sao.
Theo quan điểm của nhóm, hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an
toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu đang tranh chấp không thuộc đối tượng của
quyền SHTT.
Xuât phát từ căn cứ xác lập đối tượng sở hữu trí tuệ. Đối với quyền tác
giả , căn cứ vào từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một
hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức,
phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng
ký. Đối với quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế thì được xác lập dựa trên
cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ
tục đăng ký. Còn với quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được
xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc
bảo mật bí mật kinh doanh đó.
Đối với việc cấp văn bằng bảo hộ thì tùy vào từng nhóm đối tượng thì cơ
quan cấp văn bằng sẽ khác nhau.
Quay lại vụ án, hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực
phẩm đối với 07 loại rượu không thỏa mãn được các yếu tố để làm căn cứ xác lập
quyền sở hữu trí tuệ. Trên khía cạnh quyền tác giả, hồ sơ không thuộc loại tác
phẩm được bảo hộ, vì hồ sơ chỉ tập hợp các tài liệu liên quan đến chất lượng,
điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩm được Bộ Y tế ban hành theo mẫu. Ở nó không
thể hiện tính sáng tạo để được coi là đối tượng được bảo hộ dưới dạng quyền tác
giả. Trên khía cạnh quyền sở hữu công nghiệp, hồ sơ trên không thỏa các điều kiện
để có thể được coi là một bí mật kinh doanh theo Điều 84 Luật SHTT hay là một
sáng chế theo khoản 12 Điều 4 Luật này.
Mặc khác, bản thân hồ sơ mang các thông số, số liệu về kỹ thuật đáp ứng
các điều kiện sản xuất rượu nên dù cho có nộp hồ sơ xin đăng ký bảo hộ lên Cục
SHTT cũng sẽ bị thẩm định viên ra thông báo từ chối chấp nhận.[5]
BÀI TẬP 2:
1/ Theo quy định của pháp luật SHTT, đối tượng quyền
tác giả bao gồm những đối tượng nào? Nêu cơ sở pháp lý.
Theo
khoản 5 Điều 1 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2009:
“Điều 14. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền
tác giả
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo
hộ bao gồm:
a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo
trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
c) Tác phẩm báo chí; d) Tác phẩm âm nhạc; đ) Tác phẩm
sân khấu;
e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo
phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
h) Tác phẩm nhiếp ảnh;
i) Tác phẩm kiến trúc;
k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa
hình, kiến trúc, công trình khoa học;
2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định
tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm
được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
3. Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà
không sao chép từ tác phẩm của người khác.
4. Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các loại hình tác
phẩm quy định tại khoản 1 Điều này.””
Dựa trên quy định
của pháp luật SHTT hiện hành thì tác phẩm kiến trúc có phải là đối tượng
quyền tác giả hay không? Vì sao?
Tác
phẩm kiến trúc là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại điểm i
khoản 1 Điều 14 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Hơn nữa, vấn đề bảo hộ tác
phẩm kiến trúc còn được ghi nhận tại khoản 1 Điều 2 Công ước Berne. Bởi vì, những
bản vẽ thiết kế được bảo hộ sẽ là cơ sở để thực hiện các công trình xây dựng và
xây dựng thực tế mới là mục đích cuối cùng của việc sáng tạ tác phẩm kiến trúc.
Nói cách khác, đặc trung của tác phẩm kiến trúc là nó gắn kiền với công trình xây dựng nên nó kéo theo các hệ quả
riêng của nó.
2/ Theo Tòa án xác định trong bản
án số 4, đối tượng đang tranh chấp có phải là đối tượng của quyền tác giả hay
không? Vì sao Tòa án lại xác định như vậy?
Tòa
án xác định đối tượng tranh chấp là đối tượng của quyền tác giả theo điểm i Khoản
1 Điều 14 Luật SHTT vì nó là các bản vẽ thiết kế và đã được Cục Bản quyền tác
giả cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, đồng thời, không có chủ thể nào
phủ nhận điều này.
3/ Quan điểm của
tác giả bình luận có rằng cho đối tượng đang tranh chấp là đối tượng của
quyền tác giả không? Lập luận của tác giả như thế nào về vấn đề này?
Tác
giả bình luận định nghĩa tác phẩm kiến trúc có 2 đặc trưng cơ bản là:
+
Tác phẩm kiến trúc được thể hiện dưới hình thức bản vẽ thiết kế.
+
Nội dung thiết kế là ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian
(quy hoạch xây dựng) đã hoặc chưa xây dựng.
Tác
giả bình luận cho rằng đối tượng tranh chấp là đối tượng của quyền tác giả vì
nó là các bản vẽ nên thỏa mãn yêu cầu thứ nhất. Do trong định nghĩa có ghi rõ
là không phân biệt có hay không có công trình xây dựng thực hiện từ tác phẩm kiến
trúc nên đối tượng của những bản vẽ này đều có thể được xem là “công trình xây
dựng” và phù hợp với đặc điểm thứ hai của tác phẩm kiến trúc.
4/ Theo quan
điểm của bạn, tác phẩm đang tranh chấp trong tình huống nêu trên có là đối
tượng của quyền tác giả hay không? Giải thích vì sao.
Theo
nhóm, tác phẩm đang tranh
chấp trên là đối tượng của quyền tác giả vì nó là là tác phẩm được sáng tạo và
được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định (bản vẽ). Đây là kết quả
sáng tạo của cá nhân, không trái với quy định của phạm luật và dạo đức xã hội.
Đồng thời, nó cũng đã được Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận đăng ký
quyền tác giả.
5/ Quy định của pháp luật các nước về tác phẩm kiến
trúc như thế nào (SV phải nêu được quy định của ít nhất 2 nước).
Luật Quyền tác giả các tác phẩm văn học và nghệ
thuật Thụy Điển: Người nào tiến hành các
hành vi liên quan đến việc vi phạm hoặc xâm phạm quyền tác giả, dù có lý do
chính đáng hay không chính đáng đều phải giao nộp lại cho tác giả hoặc người thừa
kế của tác giả các thiết bị liên quan đến việc vi phạm hoặc xâm phạm […]. Tòa
án có thể ra lệnh là những vật này có thể bị thiêu hủy hoặc sửa đổi theo các
cách thức đặc biệt hoặc các biện pháp khác sẽ được tiến hành để ngăn chặn việc
sử dụng không được phép. […]Những quy định này không được áp dụng đối với trường
hopwjlieen quan đến công trình xây dựng một tác phẩm kiến trúc.[6]
Luật Bản quyền Hoa Kỳ: Quyền tác giả đối với một công trình kiến
trúc đã xây dựng không bao gồm quyền ngăn cấm được tạo ra, phân phối, trình bày
tranh họa, ảnh hoặc các trình bày hình ảnh khác của tác phẩm, nếu công trình mà
trên đó biểu hiện tác phẩm được đặt trong, hoặc tầm nhìn từ, một nơi công cộng.
Sửa đổi và dỡ bỏ công trình xây dựng: chủ sở hữu công trình thể hiện một tác phẩm
kiến trúc có thể, không cần sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác
giả của tác phẩm kiến trúc đó, thực hiện hoặc cho phép thực hiện sự sửa đổi đối
với công trình này, hoặc dỡ bỏ hoặc cho phép phá hủy công trình này.[7]
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^