SHTT - Sở hữu trí tuệ - Thảo luận lần ba - Sáng chế
A.
Phần Câu hỏi sinh viên tự làm và CÓ thảo
luận trên lớp với Giảng viên:
Câu 1: Phân tích và nêu
ý nghĩa nguyên tắc nộp đơn đầu tiên. Nguyên tắc này được áp dụng cho những đối
tượng nào?
Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được quy định tại
Điều 90 Sửa đổi bổ sung 2009 luật SHTT như sau. Nguyên tắc này
bao gồm các nguyên tắc sau:
Thứ nhất,
trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc tương đương với
nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau thì
văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp trong đơn
hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng
các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.
Thứ
hai, trong trường
hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc
tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc
tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các
nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ
chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm
nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.
Thứ
ba, trong trường
hợp có nhiều đơn đăng ký trong hai trường hợp trên cùng đáp ứng các điều kiện để
được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì
văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các
đơn đó theo thoả thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thoả thuận được
thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.
Trong trường hợp đã nộp đơn đầu tiên tại Việt
Nam hoặc tại các quốc gia là thành viên của công ước paris về Sở Hữu công nghiệp,
công ước PCT về bảo hộc sáng chế thì người nộp đơn có quyền yêu cầu hưởng quyền
ưu tiên cho đối tượng đã được nộp trong đơn đầu tiên trong thời hạn nhất định.
Điều này đồng nghĩa với việc trong thời gian nộp đơn đầu tiên đến ngày nộp đơn
tại Việt Nam mà có chủ thể khác nộp đơn xen vào cho cùng đối tượng trong đơn đầu
tiên thì đơn của bạn vẫn được coi là có cùng ngày nộp đơn với ngày nộp đơn đầu
tiên và được ưu tiên bảo hộ. Nguyên tắc này là không giống nhau ở mỗi quốc gia.
- Ý nghĩa:
+ Là một căn cứ để xác
lập trong quyền sở hữu trí tuệ, góp phần bảo vệ chủ sở hữu tạo điều kiện cho chủ
thể đầu tư vào việc kinh doanh hàng hóa dịch vụ, nâng cao chất lượng.
+ Là mốc thời gian để
căn cứ và đánh giá tính mới và sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp nộp đơn với các
kiểu dáng trước ngày nộp đơn.
- Nguyên tắc áp dụng cho những đối tượng sau
đây:
+
Trong đăng ký bảo hộ sáng chế: trong trường họp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký bảo hộ cùng
một sáng chế thì pháp luật Việt Nam áp dụng nguyên tắc “ nộp đơn đầu tiên” ,
theo đó văn bằng bảo hộ sáng chế chỉ có thể cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên
hoặc có ngày nộp đơn sớm nhất trong số các điều kiện để được cấp bằng bảo hộ.
Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký đủ yêu cầu , có cùng ngày ưu tiên hoặc
ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho một đơn duy
nhất theo sự thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn. Nếu không thỏa thuận được
thì tất cả các đơn đều bị từ chối ( theo quy định khoản 1 và 3 DD90 LSHTT)
+
Trong đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp: trong trường hợp có từ hai đơn trở
lên yêu cầu cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho cùng một kiểu dáng
công nghiệp, nếu các kiểu dáng công nghiệp này đáp ứng được điều kiện bảo hộ
thì đơn nào hợp lệ nộp sớm nhất sẽ được cấp bằng bảo hộ, đơn nào nộp muộn hơn sẽ
bị từ chối. Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên không cho phép những người có kiểu dáng
công nghiệp được quyền chậm trễ trong việc nộp đơn đăng ký
+
Trong đăng ký bảo hộ nhãn hiệu: khi có hai hay nhiều chủ thể cùng nộp đơn đăng
ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa hay các nhãn hiệu hàng hóa tương tự nhau có khả
năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thì cơ quan đăng ký sẽ cấp bằng bảo hộ cho
người nộp đơn đầu tiên theo khoản 2 Điều 90 LSHTT.
Câu
2: So sánh cơ chế bảo
hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp.
Cơ chế
bảo hộ
Đặc điểm
|
Quyền tác giả
|
Quyền sở hữu công nghiệp.
|
Khái niệm
|
Là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác
phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. (khoản 2 Điều 4 Luật SHTT)
|
Là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn
hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra
hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. (khoản 4 Điều 4
Luật SHTT)
|
Căn cứ xác lập
|
- Bảo hộ theo nguyên tắc tự động
- Không bắt buộc mà chỉ khuyến khích
đăng ký. Thủ tục đơn giản, không thẩm định nội dung chỉ ghi nhận quyền tác giả
(khoản 1 Điều 6 Luật SHTT)
|
- Bảo hộ tự động đối với nhãn hiệu nổi
tiếng.
- Các đối tượng còn lại cần phải được cấp văn bằng bảo hộ.
(khoản 3 Điều 6 Luật SHTT)
|
Cơ sở bảo hộ
|
- Bảo hộ hình thức thể hiện ý tưởng
sáng tạo; không cần phải được đánh giá hay công nhận.
|
- Bảo hộ độc quyền nội dung sáng tạo
và uy tín kinh doanh; một số đối tượng phải được đánh giá và công
nhận, một số đối tượng khác được xác định bảo hộ thông qua các
vụ tranh chấp.
|
Đối tượng bảo hộ
|
Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học. (khoản 1 Điều 3 Luật SHTT)
|
Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao
gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn,
bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. (khoản 2
Điều 3 Luật SHTT)
|
Tiêu chuẩn bảo hộ
|
- Bảo vệ tính nguyên gốc của tác
phẩm.
|
- Bảo vệ tính mới so với thế
giới. Chính vì thế mà trong khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp có ngày ưu tiên và quyền ưu tiên. (Điều 60, Điều 91 Luật SHTT)
|
Thời hạn bảo hộ
|
- Quyền nhân thân không thể chuyển
giao được bảo hộ vô thời hạn.
- Quyền tác giả và quyền nhân thân có
thể chuyển giao được bảo hộ trong thời hạn nhất định và không được gia hạn.
(Điều 27 Luật SHTT)
|
- Các đối tượng được bảo hộ trong thời
gian nhất định và có đối tượng được gia hạn bảo hộ. (Điều 93 Luật SHTT)
|
Thời điểm phát sinh
|
- Phát sinh khi tác phẩm được định
hình dưới dạng vật chất nhất định. (Điều 6 Luật SHTT)
|
- Phát sinh tại từng thời điểm khác
nhau tùy thuộc vào đối tượng được bảo hộ
|
Giống nhau
|
Quyền tác giả và quyền sở hữu công
nghiệp cùng bảo vệ thành quả sáng tạo; một số đối tượng không được bảo hộ nếu
có nội dung vi phạm pháp luật, trái với đạo đức.
|
Câu
3: Ông
A là chuyên viên thiết kế làm việc cho công ty M kinh doanh trong lĩnh vực sản
xuất thiết bị nhà bếp. Giữa ông và công ty có ký hợp đồng lao động thỏa thuận về
phạm vi công việc, mức lương và các nội dung khác. Trong thời gian làm việc tại
công ty, ông A có thiết kế một số kiểu dáng công nghiệp theo yêu cầu của công
ty và được công ty M tiến hành thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
a/
Công ty M có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp đối với các sản phẩm của ông A
thiết kế không? Nêu cơ sở pháp lý.
Công
ty M có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp đối với các sản phẩm của ông A thiết
kế. Lí do: là vì các sản phẩm của ông A thiết kế xuất phát từ yêu cầu của Công
ty M đối với ông A và trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm Công ty M đã cung cấp
các phương tiện vật chất, đầu tư kinh phí cho ông A, ngoài ra giữa hai bên
không có thỏa thuận gì khác để có thể khẳng định rằng Công ty M không có quyền
đăng ký kiểu dáng công nghiệp đối với sản phẩm của ông A thiết kế cả.
CSPL:
Điểm b khoản 1 Điều 86 Luật SHTT 2005
sđ, bs năm 2009.
b/ Nếu kiểu dáng công nghiệp được cấp văn bằng bảo hộ thì
ông A và công ty M có những quyền gì đối với các thiết kế này?
Thứ nhất, Chủ sở hữu được quyền sử dụng, cho phép người
khác sử dụng kiểu dáng công nghiệp mà họ sở hữu.
Thứ hai, quyền ngăn cấm người khác sử dụng kiểu dáng công
nghiệp. Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp được pháp luật cho phép độc quyền sử dụng
kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ thì tất yếu họ phải có quyền cấm những người
khác sử dụng kiểu dáng công nghiệp mà không có sự đồng ý của họ.
Thứ ba, Quyền định đoạt kiểu dáng công nghiệp của chủ sở
hữu. Quyền định đoạt kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ là một nội dung quyền
quan trọng không thể thiếu, giúp khẳng định quyền của chủ sở hữu với kiểu dáng
công nghiệp mà họ đăng ký và được bảo hộ.
Câu
4: Nghiên cứu Bản án số 96/2010/KDTM-PT ngày
03/6/2010 về việc Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của Tòa án nhân dân tối cao
và trả lời câu hỏi:
a/Sáng
chế và kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” do ai tạo ra? Sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp này đã được đăng ký bảo hộ chưa?
Sáng chế và kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn”
do Sau khi ông Đỗ Thành Đồng sáng chế ra.
Phần Nhận thấy của bản án: Ngày 01-7-2004, Công ty Thành Đồng
đăng ký bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp đối với sản phẩm “Bạt chắn nắng
mưa tự cuốn” tại Cục sở hữu trí tuệ. Sáng chế và kiểu dáng “Bạt chắn nắng mưa tự
cuốn” của Công ty Thành Đồng được bảo hộ độc quyền trên toàn lãnh thổ Việt
Nam.
Phần Xét thấy của bản án: Hội đồng xét xử nhận thấy: sản
phẩm “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” đang có tranh chấp đã được Cục sở hữu trí tuệ
- Bộ khoa học và công nghệ cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 8595
ngày 29/9/2005 và Bằng độc quyền sáng chế số 5633 ngày 09/5/2006 cho Công ty
Thành Đồng, sản phẩm này được bảo hộ độc quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
b/Việc Công ty
Thành Đồng đã đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đối với “Bạt chắn
nắng mưa tự cuốn” thì Cơ sở Ngọc Thanh có biết hay không? Đoạn nào trong bản án
thể hiện điều này?
Cơ sở Ngọc Thanh có biết việc Công ty Thành Đồng đăng ký bảo
hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp đối với sản phẩm “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn”.
Điều này được thể hiện trong phần Xét thấy của bản án: “Tại
phiên tòa phúc thẩm ông Ninh Ngọc Thanh và luật sư bảo vệ quyền lợi cho Cơ sở sản
xuất Ngọc Thanh đều thừa nhận việc Cơ sở sản xuất Ngọc Thanh sản xuất và lưu
hành trên thị trường loại “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” là vi phạm bản quyền của
Công ty Thành Đồng đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền sáng chế và Bằng
độc quyền kiểu dáng công nghiệp.”
c/Cơ sở Ngọc
Thanh khi sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn”
có được Công ty Thành Đồng đồng ý hay không? Đoạn nào của bản án thể hiện điều
này?
Cơ sở Ngọc Thanh khi sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp
“Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” không có sự đồng ý của Công ty Thành Đồng.
Điều này được thể hiện trong phần Xét thấy của bản án:
“Tuy nhiên cơ sở
Ngọc Thanh vẫn sản xuất và lưu hành trên thị trường loại bạt chắn nắng mưa tự cuốn trong thời hạn có hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp mà không được sự đồng ý của Công ty Thành Đồng và khi có tranh chấp không xuất trình được bất kỳ loại giấy tờ nào thể hiện việc sản xuất kinh doanh loại sản phẩm này là hợp pháp. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết cơ sở sản xuất Ngọc Thanh sản xuất và lưu hành sản phẩm bạt chắn nắng mưa tự cuốn rộng rãi trên thị trường là vi phạm Bằng độc quyền sáng chế công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp về sản phẩm bạt chắn nắng mưa tự cuốn của Công ty Thành Đồng là có căn cứ đúng pháp luật. Chính ông Ninh Đức Thanh và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Cơ sở Ngọc Thanh cũng thừa nhận đã có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của Công ty Thành Đồng.”
Ngọc Thanh vẫn sản xuất và lưu hành trên thị trường loại bạt chắn nắng mưa tự cuốn trong thời hạn có hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp mà không được sự đồng ý của Công ty Thành Đồng và khi có tranh chấp không xuất trình được bất kỳ loại giấy tờ nào thể hiện việc sản xuất kinh doanh loại sản phẩm này là hợp pháp. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết cơ sở sản xuất Ngọc Thanh sản xuất và lưu hành sản phẩm bạt chắn nắng mưa tự cuốn rộng rãi trên thị trường là vi phạm Bằng độc quyền sáng chế công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp về sản phẩm bạt chắn nắng mưa tự cuốn của Công ty Thành Đồng là có căn cứ đúng pháp luật. Chính ông Ninh Đức Thanh và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Cơ sở Ngọc Thanh cũng thừa nhận đã có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của Công ty Thành Đồng.”
d/Cơ sở Ngọc
Thanh sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” có thỏa
mãn các điều kiện của quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp
hay không?
Cơ sở Ngọc Thanh cho rằng đã sản xuất,
kinh doanh sản phẩm mái chắn nắng mưa tự cuốn từ năm 2002, nhưng việc sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp
“Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” không thỏa mãn các điều kiện của quyền sử dụng trước
theo Điều 134 Luật Sở hữu trí tuệ vì trước khi Công ty Thành Đồng đăng ký sáng
chế, Công ty Ngọc Thanh không chứng minh được sản phẩm “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn”
mà họ đang kinh doanh là do họ tạo ra một cách độc lập.
Tại bản kết luận giám định số SC.0011209.TC/KLGĐ ngày 12-8-2009, Viện khoa học sở hữu trí tuệ - Bộ
khoa học và công nghệ kết luận: Trong thời hạn hiệu lực của bằng độc quyền sáng
chế số 5633 (cấp ngày 09-5-2006), việc Cơ sở sản xuất mái hiên Ngọc Thanh sản
xuất tại Việt Nam sản phẩm “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” được xác định bằng các đặc
điểm (dấu hiệu) kỹ thuật cơ bản có trong hồ sơ giám định mà không được phép của
Công ty Thành Đồng và cũng không có quyền ngoại lệ theo Điều 125.2 hoặc Điều
134 Luật sở hữu trí tuệ 2005 là hành vi xâm phạm quyền đối
với sáng chế “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” được bảo hộ theo bằng độc quyền sáng chế số 5633 của Công ty Thành Đồng.
với sáng chế “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” được bảo hộ theo bằng độc quyền sáng chế số 5633 của Công ty Thành Đồng.
Tại bản kết luận giám định số KD.001039.TC/KLGĐ ngày 19-8-2009, Viện khoa học sở hữu trí tuế - Bộ
khoa học và công nghệ kết luận: Trong thời hạn hiệu lực của bằng độc quyền kiểu
dáng công nghiệp số 8595 (cấp ngày29-9-2005), việc cơ sở sản xuất mái hiên Ngọc
Thanh sản xuất tại Việt Nam sản phẩm “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” có hình dáng
bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được xác định bằng các đặc điểm tạo dáng cơ
bản nêu trong hồ sơ giám định mà không được phép của Công ty Thành Đồng và cũng
không có quyền ngoại lệ theo Điều 125.2 hoặc Điều 134 Luật sở hữu trí tuệ 2005
là hành vi xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm “Bạt chắn
nắng mưa tự cuốn” được bảo hộ theo bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 8595
của Công ty Thành Đồng.
e/Phân tích
tính mới của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp.
Tính mới của sáng chế và kiểu dáng công nghiệp được quy định
tại Điều 58, 60, 63, 65 Luật Sở hữu trí tuệ. Đây là một trong những điều kiện
tiên quyết để sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.
·
Tính mới của sáng chế[1]:
Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công
khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở
trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước
ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.
Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một
số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.
Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố
trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong
thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:
+ Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của
người có quyền đăng ký.
+ Sáng chế được người có quyền đăng ký công bố bằng báo cáo
khoa học;
Sáng chế được người có quyền đăng ký trưng bày tại cuộc
triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc
được thừa nhận là chính thức.
·
Tính mới của kiểu dáng công nghiệp[2]:
Một trong những điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đó là
kiểu dáng công nghiệp phải có tính mới (thực tế cho thấy hầu hết các đơn đăng
ký kiểu dáng công nghiệp bị xem là không đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ là do không
có tính mới), cụ thể phải khác biệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã
bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình
thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày
ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên.
Hai kiểu dáng công nghiệp không được coi là khác biệt đáng
kể với nhau nếu chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận
biết, ghi nhớ và không thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng công nghiệp
đó; ngược lại, hai kiểu dáng công nghiệp được coi là khác biệt đáng kể với nhau
nếu một trong hai có ít nhất một đặc điểm tạo dáng cơ bản không có trong kiểu
dáng công nghiệp còn lại.
Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được
công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công
nghiệp được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:
+ Kiểu dáng công nghiệp bị người khác
công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký;
+ Kiểu dáng công nghiệp được người có
quyền đăng ký công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
+ Kiểu dáng công nghiệp được người có
quyền đăng ký trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc
triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.
f/Hành vi của
cơ sở Ngọc Thanh sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “bạt chắn nắng mưa tự
cuốn” có vi phạm Luật SHTT không? Cơ sở pháp lý.
Hành vi của Cơ sở Ngọc Thanh sử dụng sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” có vi phạm Luật SHTT theo khoản 1,2 Điều
124, Điều 126 Luật SHTT; Điều 8,10 NĐ 105/2006/NĐ-CP.
B.
Phần Câu hỏi sinh viên tự làm và KHÔNG thảo luận trên lớp với Giảng viên:
Đọc, nghiên cứu Bản án số 7 “Bảo vệ
quyền tác giả” Chương 2 (Bản án số 127/2007/DSPT (Tòa phúc thẩm TANDTC) (gồm cả
phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt
Nam và trả lời các câu hỏi sau đây:
a/Phân
tích khái niệm “trích dẫn hợp lý tác phẩm”. Nêu ý nghĩa của quy định “Các trường
hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận
bút, thù lao”.
Quy
định về trích dẫn hợp lý tác phẩm theo Công ước Berne năm 1886.
Điều 10 Công ước Berne năm 1886 quy
định một số trường hợp sử dụng tự do tác phẩm: 1. Trích dẫn; 2. Minh hoạ phục vụ
giảng dạy; 3. Chỉ dẫn nguồn gốc và tác giả.
Được coi là hợp pháp những trích dẫn
rút từ một tác phẩm đã được phổ cập tới công chúng một cách hợp pháp, miễn là sự
trích dẫn đó phù hợp với những thông lệ đúng đắn và không vượt quá mục đích trích
dẫn, kể cả những trích dẫn các bài báo và tập san định kỳ dưới hình thức điểm
báo[3].
Những
quy định của pháp luật Việt Nam về trích dẫn hợp lý tác phẩm
Luật Sở hữu trí tuệ nghiêm cấm các
hành vi xâm phạm đến các quyền sở hữu trí tuệ và quy định các trường hợp khi sử
dụng tác phẩm đã công bố thì phải xin phép, trả nhuận bút và thù lao, thế nhưng
cũng có trường hợp ngoại lệ, đó là trích dẫn hợp lý tác phẩm. Điểm b khoản 01
Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về việc
trích dẫn hợp lý tác phẩm: “Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý
tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình”[4] thì
không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
Điều 24 Nghị định số 100/2006 ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, trong đó, trích dẫn hợp lý phải là:
Điều 24 Nghị định số 100/2006 ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, trong đó, trích dẫn hợp lý phải là:
“1. Trích dẫn hợp lý tác phẩm
mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của
mình quy định tại điểm b khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ phải
phù hợp với các điều kiện sau:
a. Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích
giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của
mình;
b. Số lượng và thực chất của phần
trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gây phương hại tới quyền
tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc
điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn”[5].
Như vậy, có thể thấy rằng mặc dù pháp luật
đã có quy định về điều kiện để xác định khi nào một trích dẫn được xem là trích
dẫn hợp lý. Tuy vậy, quy định này vẫn chưa thật sự rõ ràng, hay nói cách khác,
nó còn quá mang tính trừu tượng để có thể áp dụng trên thực tế.
Một số quan điểm cho rằng trích dẫn còn
được hiểu là việc sử dụng một phần tác phẩm (không đáng kể) của người khác để
nêu bật ý tác giả. Việc trích dẫn phải không đơn thuần vì mục đích kinh doanh,
không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng bình thường tác phẩm và phải nêu nguồn gốc
của tác phẩm. Tuy vậy, trên thực tế một số học giả trích dẫn toàn bộ nội dung của
một tác phẩm nào đó cũng có thể được xem là trích dẫn hợp lý. Như vậy, có thể
nói rằng, trích dẫn một phần hay toàn bộ không thể được xem là căn cứ chủ yếu để
đánh giá trích dẫn đó có hợp lý hay không.
Theo đó, khái niệm trích dẫn cần được hiểu
theo một nghĩa thoáng hơn. Việc xem xét khi nào trích dẫn toàn bộ tác phẩm hay
một phần tác phẩm là hợp lý cần phải dựa trên sự đánh giá theo từng tình tiết của
một vụ việc hay hoàn cảnh của một tác phẩm nhất định. Việc pháp luật sở hữu trí
tuệ đưa ra 2 tiêu chí mang tính tổng quan như hiện nay tưởng chừng là vô lý
nhưng thực sự lại rất hợp lý. Bởi lẽ để đánh giá về vấn đề này, chúng ta cần
nhìn nhận 1 cách tổng quan và cần có kiến thức chuyên môn về chính vấn đề mà
tác giả đang sử dụng để trích dẫn. “Tính hợp lý” hay không của một trích dẫn chỉ
có thể được đánh giá một cách khách quan nhất nếu chúng ta có một cái nhìn mang
tính “mở” dành cho nó.
Mục đích của việc bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ không ngoài việc khuyến khích sáng tạo ra ngày càng nhiều tác phẩm phục
vụ nhu cầu thưởng thức của cộng đồng, cũng như những lợi ích thiết thực khác
thông qua các tác phẩm khoa học[6].
Tôn trọng, bảo vệ và sử dụng hợp lý
tác phẩm là việc làm cần thiết và tạo động lực để thúc đẩy việc sáng tạo các
tác phẩm khoa học cho xã hội và cho cả người trích dẫn tác phẩm. Sở hữu trí tuệ
là phương thức bảo hộ một loại tài sản vô hình, một tài sản có giá trị, dễ bị
xâm phạm và khó tự bảo vệ. Sở hữu trí tuệ có thể làm phát sinh độc quyền và các
hệ lụy xã hội, tuy nhiên nó có thể là động lực để phát huy tính năng động và
sáng tạo, hai động lực không thể thiếu của nền kinh tế thị trường.[7]
Trích dẫn hợp lý tác phẩm còn thể hiện
sự tham khảo sâu rộng của người viết đối với tác phẩm có giá trị trước đó và sử
dụng chúng phù hợp với mục đích bài viết của mình, thể hiện quá trình nghiên cứu
nghiêm túc, khoa học và theo những chuẩn mực nhất định. Đó chính là một nét văn
hóa khoa học chẳng xa lạ gì với người Việt chúng ta: nói có sách, mách có
chứng
Chính việc trích dẫn nghiêm túc tác
phẩm sẽ hạn chế được vấn đề đạo văn. Vấn đề đạo văn ở Việt Nam là vấn đề thời sự. Tháng
10 năm ngoái xảy ra một vụ tai tiếng về một nhóm tác giả với 3 bài báo khoa học
bị rút lại sau khi đã công bố trên một tập san quốc tế. Nạn đạo văn ở nước nào
cũng khá phổ biến, nhưng ở nước ta cường độ thì có lẽ cao hơn nhiều so với các
nước khác[8].
Nêu
ý nghĩa của quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin
phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao”
Theo lẽ thông thường việc sử dụng bất
kỳ một sản phẩm trí tuệ nào thì đều phải trả chi phí cho nguời sáng tạo ra sản
phẩm trí tuệ đó để bù đắp một phần kinh tế cho người sáng tạo ra sản phẩm đó. Mặt
khác cũng để cân bằng mức sống trong xã hội.
Tuy nhiên, để xã hội phát triển một
cách đồng đều đặc biệt là những nơi, những vùng có hoàn cảnh khó khăn dẫn đến
việc tiếp cận các tri thức mới gặp nhiều khó khăn thì việc quy định việc sử dụng các tác phẩm đã được
công bố mà không cần xin
phép và cũng không phải trả chi
phí nhuận bút, thù lao cho tác giả là hợp lý[9].
Theo
đó, một số trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép,không
phải trả tiền nhuận bút,thù lao như là:
Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học,giảng dạy
của cá nhân: việc nghiên cứu khoa học để tìm ra những nền tảng tri thức mới
luôn luôn được cổ vũ ở mọi quốc gia. Nghiên cứu khoa học không chỉ giúp ích cho
quốc gia mà nhà khoa học đó làm việc mà còn đem đến cho nhân loại một nền tri
thức mới, qua đó giúp xã hội loài người ngày càng phát triển. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu lại được xây dựng trên những nền tảng của các nhà khoa học đi trước,
tức là họ sử dụng những nghiên cứu trước đó để phát triển, xây dựng nên những
tri thức khoa học mới. Chính vì lẽ đó, trong hầu hết các hệ thống pháp luật đều
quy định việc tự sao chép một tác phẩm đã được công bố nhằm mục đích nghiên cứu
thì không phải xin phép tác giả và cũng không phải trả chi phí nhuận bút, thù
lao.
Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không
làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình: Tương tự
như việc nghiên cứu khoa học, sáng tạo ra những tri thức mới, việc viện dẫn các
luồng tư tưởng, các tác phẩm đã có sẵn trước đó để lập luận cho bài nghiên cứu,
bài luận… của mình được rõ ràng, có sức thuyết phục hoàn toàn được phép mà
không phải trả phí. Tuy nhiên, người trích dẫn phải đảm bảo rằng trích dẫn
nguyên văn, không được tự ý làm sai các tư tưởng, quan điểm của tác giả ban đầu. Phần
trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được
đề cập trong tác phẩm của mình chứ không được sử dụng y nguyên tư tưởng của tác
phẩm gốc. Bên cạnh đó số lượng và thực chất của phần trích dẫn từ tác phẩm được
sử dụng để trích dẫn không gây phương hại tới quyền tác giả đối với tác phẩm được
sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được
sử dụng để trích dẫn.
Biểu diễn tác phẩm sân khấu,loại
hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá,tuyên truyền cổ
động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào: nhằm mục đích đưa các tác phẩm
sân khấu, các loại hình biểu diễn nghệ thuật dân tộc đến khán giả với mục đích
tuyên truyền, cổ động không nhằm mục đích kinh doanh thương mại thì cũng không
phải trả chi phí nhuận bút, thù lao.
Có thể thể thấy quy định tại
Điều 25 Luật SHTT về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải
xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” là nhằm mục đích vì
cộng đồng xã hội là phần lớn. Đóng góp một phần kiến thức cho nhân
loại hoặc để đông đảo mọi người được biết đến tác phẩm hơn nhưng
không làm phương hại đến các quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả, đặc biệt không phải vì mục đích kinh doanh.
b/Tác
phẩm của bị đơn có được coi là tác phẩm phái sinh từ các tác phẩm của nguyên
đơn không? Vì sao?
Tác phẩm của bị đơn không được coi là
tác phẩm phái sinh từ các tác phẩm của nguyên đơn, bởi vì theo định nghĩa
về tác phẩm phái sinh của Luật SHTT: “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn
ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển
chọn”[10].
Trong khi tác phẩm của bị đơn không thuộc
các hình thức của tác phẩm phái sinh mà là một tác phẩm nghiên cứu
khoa học có sự sáng tạo, đây là sự trích dẫn tác phẩm.
Khi nghiên cứu 4 bài của ông Tuân, ông Tôn đã phải trích nguyên
văn bài và chỉ ra 82 lỗi sai sót về mặt nhận thức trong 4 bài viết của ông Tuân
(tổng số chữ trong 4 bài của ông Tuân là 16.545 chữ, thì có 82 lỗi) mà trong
bình chú ông Tôn phê bình ông Tuân cho là ông Tuân không trung thực và non kém
vè mặt chuyên môn, thế nhưng cho đến khi xảy ra tranh chấp ông Tuân không có
bài tranh luận lại. Và như vậy, rõ ràng ông Tôn đã dựng lại trung thực toàn bộ
cuộc tranh luận nhằm mục đích nghiên cứu, phổ biến thông tin thì ông Tôn phải
in trọn 4 bài của ông Tuân một cách đầy đủ để người đọc mới hiểu hết được những
nội dung cần tranh luận. Các bài của ông Tuân không bị cắt xén, nối ghép, xuyên
tạc, và tên tác giả vẫn được đề vào cuốn sách rõ ràng thể hiện nguồn gốc tác phẩm,
tác giả. Và tuy là “in toàn văn” nhưng thực chất ông Tôn trích dẫn, bởi ông Tôn
đã xen vào các đoạn trong các bài viết của ông Tuân những lời bình chú của
mình, mục đích là để người đọc dễ đối chiếu và nhận ra những sai sót trong các
bài của ông Tuân. Như vậy, cần phải khẳng định đây là một tác phẩm nghiên cứu khoa học, một chỉnh thể sáng tạo của ông
Tôn, chứ ông Tôn không phải đơn thuần chỉ là hợp tuyển các bài của nhiều tác giả
để in thành sách với mục đích thương mại.[11]
c/Hành
vi của bị đơn có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn không, vì sao?
Hành
vi của bị đơn không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn. Bởi vì:
Thứ
nhất, ông Tôn tập hợp 10 bài trong phần thảo luận, trong đó có 4 bài của ông
Tuân thì ở các bài này đều phản ánh rất rõ đây đều là những bài tranh luận về
phương pháp nghiên cứu văn bản học Truyện Kiều do giáo sư Hoàng Xuân Hãn đề xuất
trước khi qua đời và cuộc tranh luận diễn ra rất sôi nổi trong nhiều năm
(1997-1999).
Thứ hai, Khi nghiên cứu 4 bài của
ông Tuân, ông Tôn đã phải trích nguyên văn bài và chỉ ra 82 lỗi sai sót về mặt
nhận thức trong 4 bài viết của ông Tuân (tổng số chữ trong 4 bài của ông Tuân
là 16.545 chữ, thì có 82 lỗi) mà trong bình chú ông Tôn phê bình ông Tuân cho
là ông Tuân không trung thực và non kém vè mặt chuyên môn, thế nhưng cho đến
khi xảy ra tranh chấp ông Tuân không có bài tranh luận lại. Và như vậy, rõ ràng
ông Tôn đã dựng lại trung thực toàn bộ cuộc tranh luận nhằm mục đích nghiên cứu,
phổ biến thông tin thì ông Tôn phải in trọn 4 bài của ông Tuân một cách đầy đủ
để người đọc mới hiểu hết được những nội dung cần tranh luận.
Thứ ba, Các bài của ông Tuân không
bị cắt xén, nối ghép, xuyên tạc, và tên tác giả vẫn được đề vào cuốn sách rõ
ràng thể hiện nguồn gốc tác phẩm, tác giả. Và tuy là “in toàn văn” nhưng thực
chất ông Tôn trích dẫn, bởi ông Tôn đã xen vào các đoạn trong các bài viết của
ông Tuân những lời bình chú của mình, mục đích là để người đọc dễ đối chiếu và
nhận ra những sai sót trong các bài của ông Tuân. Như vậy, cần phải khẳng định
đây là một tác phẩm nghiên cứu khoa học, một chỉnh thể sáng tạo của ông
Tôn, chứ ông Tôn không phải đơn thuần chỉ là hợp tuyển các bài của nhiều tác giả
để in thành sách với mục đích thương mại.
Thứ tư, rên thực tế ông Tôn nhận
7.000.000 đồng tiền nhuận bút là nhận tiền của tác phẩm “Văn bản Truyện Kiều –
Nghiên cứu và Thảo luận” theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút, ông
Tôn cũng không được chia xẻ lợi nhuận từ việc in tác phẩn trên của các nhà xuất
bán sách, theo đó ông Tôn không phải nhận tiền 4 bài của ông Tuân.
Chiếu theo các Điều 750, 751, 760 Bộ
luật dân sự năm 1995, Nghị định 76/CP và tham khảo nội dung quy định tại Điều
19 Luật Sở hữu trí tuệ thì việc làm của ông Tôn là không trái pháp luật. Cụ
thể ở Điều 760 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: “Cá nhân, tổ chức được sử dụng
tác phẩm của người khác đã được công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm
sao chụp và việc sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng
đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của
tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm không phải
xin phép và không phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nhưng
phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm”.
Như vậy, rõ ràng việc ông Tôn đưa
in 4 bài của ông Tuân nhằm mục đích phê bình trong phần thảo luận là không vi
phạm bản quyền tác giả.
d/Giả
sử bạn là luật sư của bị đơn, hãy đưa ra tư vấn thích hợp.
Căn cứ vào Điều 760, 761 Bộ luật
dân sự năm 1995, để thuộc trường hợp không cần xin phép và không phải trả thù
lao cho tác giả, hành vi của người sử dụng phải thỏa mãn một số điều kiện. Thứ
nhất, hành vi sử dụng phải thuộc một trong những hành vi được liệt kê tại Điều
761[12]; thứ
hai, việc hành vi này phải thỏa mãn những yêu cầu của Điều 760[13].
Trường hợp này, tuy là ông Tôn
đã “in toàn văn” bốn tác phẩm của ông Toàn, nhưng việc in toàn bộ
này thoả mãn hai điều kiện trên cụ thể là điểm b khoản 1 Điều 761
“Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để bình luận hoặc minh
hoạ trong tác phẩm của mình” và đủ các điều kiện theo Điều 760.
Nhưng cũng cần xem xét lại là
việc in nguyên văn bốn tác phẩm của nguyên đơn có phù hợp với tiêu
chí “trích dẫn hợp lý” theo pháp luật hiện hành hay không thì do các
văn bản pháp luật thời điểm đó chưa có quy định cụ thể về vấn đề
phạm vi trích dẫn bao nhiêu được xem là hợp lý.
Cho nên việc nhìn nhận về vấn
đề này là do việc lập luận để bảo vệ bị đơn như sau: do ông Tôn đã dựng
lại trung thực toàn bộ cuộc tranh luận nhằm mục đích nghiên cứu, phổ biến thông
tin thì ông Tôn phải in trọn 4 bài của ông Tuân một cách đầy đủ để người đọc mới
hiểu hết được những nội dung cần tranh luận, chỉ ra 82 lỗi sai sót về mặt nhận
thức trong 4 bài viết của ông Tuân (tổng số chữ trong 4 bài của ông Tuân là
16.545 chữ, thì có 82 lỗi) mà trong bình chú ông Tôn phê bình ông Tuân cho là
ông Tuân không trung thực và non kém vè mặt chuyên môn, thế nhưng cho đến khi xảy
ra tranh chấp ông Tuân không có bài tranh luận lại.
Các bài của ông Tuân không bị cắt
xén, nối ghép, xuyên tạc, và tên tác giả vẫn được đề vào cuốn sách rõ ràng thể
hiện nguồn gốc tác phẩm, tác giả. Và tuy là “in toàn văn” nhưng thực chất ông
Tôn trích dẫn, bởi ông Tôn đã xen vào các đoạn trong các bài viết của ông Tuân
những lời bình chú của mình, mục đích là để người đọc dễ đối chiếu và nhận ra
những sai sót trong các bài của ông Tuân. Như vậy, cần phải khẳng định đây là một
tác phẩm nghiên cứu khoa học, một chỉnh thể sáng tạo của ông Tôn. Hơn thế
khi trích dẫn thì ông Tôn cũng có ghi tên ông Tuân đầy đủ.
[1] Nguồn: http://hanoilaw.vn/so-huu-cong-nghiep/sang-che-kieu-dang-giai-phap-huu-ich/dieu-kien-duoc-bao-ho/tinh-moi-cua-sang-che/910.html (truy cập lần cuối ngày
15/9/2017)
[2] Nguồn: http://truongluat.vn/kieu-dang-cong-nghiep/tinh-moi-cua-kieu-dang-cong-nghiep (truy cập lần cuối ngày
15/9/2017)
[3] Điều
10 Công ước Berne năm 1886.
[4] Điểm
b Khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
[5] Điều
24 Nghị định số 100 ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một
số quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền
liên quan.
[6] Tập thể tác giả, Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ
(NXB Hồng Đức, 2015), trang 92.
[7] Sđd, trang 92.
[8] Thuỳ
Vinh, Trang điện tử Báo Người lao động, http://nld.com.vn/20110416094351456p0c1017/bi-hai-luan-an-luoc.htm, truy cập lần cuối ngày
14/08/2017.
[9] http://www.lawfirms.vn/so-huu-tri-tue/khi-nao-su-dung-tac-pham-da-cong-bo-khong-phai-xin-phep-khong-phai-tra-nhuan-but.html, truy cập lần cuối ngày
14/08/2017.
[11] Bản án số 127/2007/DSPT ngày
14-6-2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội
[12] Theo Điều luật này, “các hình thức sử
dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả thù lao
1-
Việc sử dụng tác phẩm quy định tại Điều 760 của Bộ luật này bao gồm các hình
thức sau đây:
a)
Sao lại tác phẩm để sử dụng riêng;
b) Trích dẫn tác phẩm mà không làm
sai lạc ý của tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của mình;
c)
Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để viết báo, để dùng trong
ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
d)
Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để giảng dạy, kiểm tra
kiến thức trong nhà trường;
đ)
Sao lại tác phẩm để lưu trữ, dùng trong thư viện;
e)
Dịch, phổ biến tác phẩm từ tiếng Việt sang tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam và
ngược lại;
g)
Biểu diễn các tác phẩm sân khấu và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác
trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động ở nơi công cộng;
h)
Ghi âm, ghi hình trực tiếp các buổi biểu diễn với tính chất đưa tin thời sự
hoặc để giảng dạy;
i)
Chụp ảnh, truyền hình, giới thiệu hình ảnh của tác phẩm tạo hình, kiến trúc,
nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng trưng bày ở nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh
của các tác phẩm đó;
k)
Chuyển tác phẩm sang chữ nổi cho người mù.
2- Quyền sử dụng tác phẩm quy định
tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với việc sao lại tác phẩm kiến trúc, tác
phẩm tạo hình, phần mềm máy tính”.
[13] Theo
Điều luật này, “cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác đã được
công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng đó không
nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường
tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác
phẩm; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm không phải xin phép và không phải trả
thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nhưng phải ghi hoặc nhắc tên tác
giả và nguồn gốc tác phẩm”.
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^