SHTT- Sở hữu trí tuệ - Thảo luận lần thứ tư - Nhãn hiệu
A.
Phần Câu hỏi sinh viên tự làm và CÓ thảo
luận trên lớp với Giảng viên:
Bài
tập 1.
1.
Phân tích điều kiện bảo hộ nhãn hiệu. Nhãn hiệu của công ty Thuận Lê có được bảo
hộ theo Luật SHTT không? Vì sao?
1.1 Phân tích điều kiện bảo hộ nhãn hiệu.
(cô giáo bỏ qua)
Theo quy định tại Điều 72 Luật
SHTT thì nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
(i) Là
dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả
hình ảnh ba chiều hoặc kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều
màu sắc.
(ii) Có
khả năng phân biệt hàng hoá dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng, dịch vụ
của chủ thể khác.
Chúng ta cùng phân tích các yếu tố
trên dưới đây:
1.1.1 Nhãn hiệu trước tiên phải là
dấu hiệu
Các dấu hiệu dùng để làm nhãn hiệu
là những dấu hiệu có thể nhìn thấy được, nhận biết được bằng thị giác.
Từ ngữ bao gồm tên của công ty,
doanh nghiệp, họ tên của cá nhân, tên địa lý hay mộtt từ cụm từ bất kỳ nào
không có nghĩa, chỉ cần có khả năng phát âm.
Chữ cái và chữ số. Đó là sự sắp xếp
một hoặc nhiều chữ cái, một hoặc nhiều con số hoặc sự kết hợp của
cả chữ cái và con số.
Các hình minh hoạ có thể là
hình tả thực, hình vẽ, biểu tượng và cả các sự thể hiện không gian
hai chiều của hàng hoá hoặc bao bì.
Dấu hiệu màu sắc đó là sự
phối kết hợp màu sắc hoặc chính bản thân màu đó kết hợp với các
từ ngữ, hình ảnh.
Dấu hiệu ba chiều. Một điển
hình của các dấu hiệu ba chiều là hình dạng của hàng hoá hoặc bao bì
của chúng.
Như vậy pháp luật Việt Nam chưa
bảo hộ các dấu hiệu là âm thanh, mùi vị hoặc các dấu hiệu không
nhìn thấy được bằng mắt thường, những có thể nhận biết được bằng
thính giác hay khứu giác, bởi việc bảo hộ đối với những dấu hiệu
trên đòi hỏi quốc gia đó có trình độ phát triển cao, có đủ các
điều kiện vật chất, kỹ thuật cũng như trình độ của các nhà quản
lý.[1]
1.1.2
Các dấu hiệu không được bảo hộ là nhãn hiệu
Điều 73 Luật SHTT quy định việc
không bảo hộ các dấu hiệu dưới đây nhằm bảo vệ trật tự công cộng,
bảo vệ các quy chuẩn đạo đức xã hội:
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến
mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy các nước. Ví dụ: Quốc
kỳ Việt Nam…
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến
mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, tên viết tắt, tên đầy đủ của
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,
tổ chức chính trị xã hội – nghề
nghiệp của Việt Nam và quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó
cho phép. Ví dụ: huy hiệu tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh.
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến
mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh, của
lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân Việt Nam, của nước ngoài. Ví dụ:
Lấy tên anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi làm nhãn hiệu,…
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến
mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành
của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó yêu cầu không được sử dụng, trừ
trường hợp do chính tổ chức đó đăng ký làm nhãn hiệu chứng nhận.
Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây
nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc
xuất xứ, tình năng và công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc
tính khác của hàng hoá dịch vụ. Thí dụ sử dụng ngọn núi nổi
tiếng ở Thuỵ sỹ cho sản phầm sô cô la…[2]
1.1.3
Các dấu hiệu phải có khả năng phân biệt
Cơ
sở pháp lý: Điều 74 Luật SHTT.
Nhãn
hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một
hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ những yêu tố
kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết dễ ghi nhớ và không thuộc
các trường hợp quy định về nhãn hiệu có chưa các dấu hiệu không có
khả năng phân biệt và không được bảo hộ bao gồm các trường hợp quy
định tại Điều 74 Luật SHTT. Có thể kể tên một số trường hợp ví dụ
như là:
(1) Hình và hình học đơn giản (thí dụ hình
tròn, hình tam giác, hình elip thể hiện dưới dạng rời rạc hoặc đơn
lẻ hoặc các hình vẽ quá rắc rối phức tạp nhiều đường nét kết
hợp, chồng chéo lên nhau,…) chữ số, chữ cái, chữ theo các ngôn ngữ
không thông dụng trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng
và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa là một nhãn hiệu (thí dụ các
ký tự không có nguồn gốc La tinh như chữ Ả Rập, chữ Slavơ, Chữ Nhật
Bản,…) không được bảo hộ tại Việt Nam vì đa số người tiêu dùng, yếu
tố trên là các yếu tố hình xa lạ, khó nhận biết, khó nhớ. Trừ
trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng được người tiêu dùng biết đến rộng
rãi như nhãn hiệu 555 dùng cho thuốc lá, nhãn hiệu 333 dùng cho sản
phẩm bia. Tóm lại, về cơ bản các dấu hiệu trên không có khả năng phân
biệt nên không được đăng ký là nhãn hiệu.
(2) Dấu hiệu chỉ chỉ thời gian, địa điểm,
phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng chất lượng, tính chất
thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính
chất mô tả hàng hoá, dịch vụ (những yếu này thuộc đối tượng của
nhãn hàng hoá nhằm thông tin về hàng hoá đó). Thí dụ, bánh kẹo Hải
Hà được sản xuất tại Hà Nội với thành phần gồm bột gạo, đường,
sữa, bơ,…
1.1.4
Kết luận
Do
đó, khi thiết kế một nhãn hiệu làm cho hàng hoá, dịch vụ đến được
với người tiêu dùng, các doanh nghiệp không nên chỉ thiết kế các dấu
hiệu chữ, mà còn nên sử dụng cả hình ảnh, hoặc kết hợp cả hai để
đảm bảo yếu tố dễ nhớ, dễ truyền thụ, phổ cập, về khía cạnh mỹ
thuật cần phải đẹp, độc đáo, gây ấn tượng và thiện cảm nổi bật,
đảm bảo không trùng hay gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu của doanh
nghiệp khác. Đồng thời không nên sử dụng các nhãn hiệu không có khả
năng phân biệt và bị cấm.
2.
Nhãn hiệu của công ty Thuận Lê được bảo hộ theo quy định của Luật SHTT.
Căn
cứ điểm a khoản 3 Điều 6, Nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyêt định cấp văn
bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định.
Cần
xét thêm là văn bằng bảo hộ của công ty còn hiệu lực hay không. Khoản 6 Điều 93
Luật SHTT.
Văn bằng bảo hộ này chưa bị chấm dứt
hiệu lực (Điều 95 Luật SHTT) . Và đặc biệt Chủ sở hữu nhãn hiệu phải có nghĩa vụ
sử dụng nhãn hiệu, để loại trừ trường hợp thuộc điểm d khoản 1 Điều 95.
Chứng minh được văn bằng bảo hộ
trên lãnh thổ Việt Nam và hành vi vi phạm được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam
Bởi vì nó thỏa điều kiện chung được
bảo hộ tại Điều 72: Cụ thể trong trường hợp này nhãn hiệu được bộc lộ dưới
dạng từ ngữ. Có khả năng phân biệt bởi vì nó được tạo thành từ
một câu slogan “Flower box, not just flower, we deliver your feelings” dễ
nhận biết, dễ ghi nhớ và nhãn hiệu này không thuộc trường hợp không có
khả năng phân biệt thuộc khoản 2 Điều 74 Luật SHTT. Thêm vào đó Nhãn
hiệu “Flower box, not just flower, we deliver your feelings” không chứa các
dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu quy định tại
Điều 73 Luật SHTT.
Công ty TNHH Thuận Lê đã được cấp
giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 161818 do Cục sở hữu trí tuệ cấp theo quyết
định số 6844/QĐ-SHTT, ngày 14/04/2011 và có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm
tính từ ngày nộp, với tên đăng ký bảo hộ nhãn hiệu là “Flower box, not just
flower, we deliver your feelings”.
2/
Công ty Anh Quân sử dụng dấu hiệu “Flowerbox.vn” có xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ của công ty Thuận Lê không? Nêu cơ sở pháp lý.
Theo
khoản 1 Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 150) được
sửa đổi bổ sung theo Nghị định 119/2010/NĐ-CP quy định yếu tố xâm phạm đối
với nhãn hiệu là các dấu hiệu trên hàng hoá, bao bì hàng hoá,
phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng
cáo và các phương tiện kinh doanh khác trùng hoặc tương tự tới mức
gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ. Trong trường hợp này Công ty
Anh Quân sử dụng dấu hiệu “Flowerbox.vn” gắn trên biển hiệu của Cửa hàng
FlowerBox.vn và giao diện website: Flowerbox.vn. Tên miền website tuy không
được liệt kê theo quy định trên nhưng theo nhóm thì đây thuộc trường
hợp dấu hiệu trên phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh
khác. Bởi vì doanh nghiệp kinh doanh sử dụng website chắc chắn sẽ sử
dụng vào mục đích quảng bá sản phẩm, một kênh thông tin sản phẩm
đến cho khách hàng hoặc hơn thế là kinh doanh bằng hình thức trực
tuyến - online.
Theo khoản 2 Điều 11 Nghị định 105, căn
cứ để xem xét yếu tố xâm phạm đối với nhãn hiệu bao gồm mẫu nhãn
hiệu và danh mục hàng hoá dịch vụ được xác định tại Giấy chứng
nhận đăng ký nhãn hiệu. Công ty TNHH Thuận Lê đã được cấp giấy chứng nhận
đăng ký nhãn hiệu số 161818 do Cục sở hữu trí tuệ cấp theo quyết định số
6844/QĐ-SHTT, ngày 14/04/2011 và có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ
ngày nộp, với tên đăng ký bảo hộ nhãn hiệu là “Flower box, not just flower, we
deliver your feelings”.
Nhóm đang đặt vấn đề là hai công ty
Thuận Lê và Công ty Anh Quân có kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trùng
hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ chức năng, công dụng và
có cùng kênh tiêu thụ hay không. Thì do bản án không nêu rõ, nhưng đây
là một trong hai yếu tố để xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải
là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. (điểm b khoản 3 Điều 11
Nghị định 105).
Cuối cùng là dấu hiệu
“Flowerbox.vn” mà công ty Anh Quân đã sử dụng được coi là tương tự đến
mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đang được bảo hộ của công ty Thuận
Lê. Vì dấu hiệu có cấu tạo, cách trình bày, phát âm, ý nghĩa tương
tự đến mức không dễ dàng phân biệt với các dấu hiệu tương ứng ở
sản phẩm còn lại.[3]
Như vậy có thể kết luận rằng, Công
ty Anh Quân sử dụng dấu hiệu “Flowerbox.vn” có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của
công ty Thuận Lê.
CSPL: điểm c khoản 1 Điều 129 Luật
SHTT và Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung theo Nghị định
119/2010/NĐ-CP. ( có thể bổ sung thêm điểm
d khoản 1 Điều 130 – Tên miền – cạnh tranh không lành mạnh)
3.
Các yêu cầu của công ty Thuận Lê có phù hợp với quy định pháp luật không? Vì
sao?
Căn
cứ các Điều 203, 204, 205
Vì toà án xác định hành vi
của Công ty Anh Quân là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu. Nên các yêu cầu của công ty Thuận Lê được giải quyết như
sau:
Về yêu cầu Công ty Anh Quân chấm dứt
hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “Flower box”. Yêu cầu này phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 202 Luật
sở hữu trí tuệ 2005 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009) nên có cơ sở để Tòa án chấp nhận.
-
Thiếu
thiệt hại thực tế. Với yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do
hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu “Flower box” làm ảnh hưởng uy tín thương hiệu
nên làm giảm số lượng khách hàng và giảm doanh thu, lợi nhuận của Công ty Thuận
Lê 300.000.000 đồng và bồi thường các khoản chi phí cho công việc cần thiết mà
Công ty Thuận Lê phải thực hiện để giải quyết việc vi phạm của Công ty Anh Quân
là 50.000.000 đồng; Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình thu thập chứng cứ,
Tòa án đã yêu cầu Công ty Thuận Lê cung cấp chứng cứ chứng minh thiệt hại
300.000.000 đồng và các khoản chi phí cho công việc cần thiết mà Công ty Thuận
Lê phải thực hiện để giải quyết việc vi phạm của Công ty Anh Quân 50.000.000 đồng,
do hành vi sử dụng nhãn hiệu “Flower box” của Công ty Anh Quân nhưng Công ty
Thuận Lê không thể cung cấp những chứng từ như yêu cầu của tòa, đại diện nguyên
đơn chỉ nộp các bảng đề xuất chương trình valentine, bản tổng kết chi phí PR năm 2011 của Công ty Thuận Lê và hóa đơn
bán lẻ của Công ty Anh Quân thì không có chứng cứ nào thể hiện sự thiệt hại của
Công ty Thuận Lê và cũng không cung cấp những chứng cứ về chi phí cần thiết để giải
quyết liên quan đến hành vi vi phạm của Công ty Anh Quân nên với yêu cầu của
Công ty Thuận Lê là không có cơ sở chấp nhận phần này.
Đối với yêu cầu Công ty Anh Quân
thông báo xin lỗi công khai trên phương tiện thông tin báo chí về việc đã sử dụng
trái phép nhãn hiệu “Flower box” đã được đăng ký bảo hộ hợp pháp của Công ty
Thuận Lê. HĐXX xét thấy, do Công ty Anh Quân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ như nhận định trên, nên Công ty Anh Quân phải xin lỗi công khai trên
báo Tuổi trẻ và Thanh niên là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Luật
SHTT và mục B Khoản IV Điểm 2.2 của Thông tư liên tịch số
02/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/04/2008.
4.
Giả sử bạn là luật sư bảo vệ quyền lợi của công ty Anh Quân, hãy đưa ra lời tư
vấn thích hợp.
4.1
Hướng tư vấn không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu của Công ty
Thuận lê.
- Cần căn cứ vào xác lập quyền,
đăng ký chưa, còn hiệu lực bảo hộ không.
-
Có
kinh doanh cùng lĩnh vực không
Với các lập luận như sau:
Thứ nhất, trong trường hợp này công
ty Anh Quân sử dụng dấu hiệu “flowerbox.vn” cho biển hiệu của cửa hàng và
tên miền website “flowerbox.vn” thì không gọi là trùng với nhãn hiệu của công
ty Thuận Lê “Flower box, not just flower, we deliver your feelings”. Bởi vì
theo nhóm trùng có nghĩa giống nhau hoàn toàn.
Thứ hai, cách bố trí, trình
bày dấu hiệu với nhãn hiệu này cũng hoàn khác nhau:
(i) Công ty Anh Quân sử dụng 1 chuỗi ký tự “Flowerbox.vn”
viết liền.
(ii) Công
ty Thuận lê là một câu slogan “Flower box, not just flower, we deliver your
feelings”, trong đó cụm “Flower box” viết tách từng chữ.
Thế nên, việc nói dấu hiệu
“flowerbox.vn” tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “Flower box,
not just flower, we deliver your feelings” là không hợp lý.
Thứ ba, một trong các điều
kiện chung để một nhãn hiệu được bảo hộ đó là khả năng phân biệt.
Nhãn hiệu của công ty Thuận lê được coi là có khả năng phân biệt vì
nó được tạo thành từ một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và
không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật SHTT[4]
đó là một chuỗi các cụm từ đi liền với nhau. Trong khi dấu hiệu
“flowerbox.vn” mà công ty Anh Quân sử dụng làm người khách hàng nghĩ
ngay đến địa chỉ website.
Thứ tư, Giấy chứng nhận đăng ký
nhãn hiệu của Công ty Thuận Lê chỉ được bảo hộ tổng thể, không bảo hộ riêng
“Flowerbox, not just flower, we deliver your feelings” nếu Toà án đơn thuần
chỉ dẫn chiếu dấu hiệu “flower” để kết luận có vi phạm của công ty Anh
Quân thì thiếu tính thuyết thuyết phục. Theo ngôn ngữ tiếng anh thì
“flower” là danh từ chung chỉ về hoa. Nếu cứ có dấu hiệu “flower” mà
vi phạm thì quá thiệt thòi cho các doanh nghiệp kinh doanh các lĩnh
vực liên quan tới hoa sau này muốn có dấu hiệu này trên hàng hoá, bao
bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu,
phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác.
Thứ năm, Việc sử dụng dấu
hiệu “flowerbox.vn” của công ty Anh Quân là hợp pháp vì đã được Sở Kế hoạch
đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp phép hoạt động và công ty Anh Quân đã được Cục quản lý tên miền Công ty Mắt Bão chứng
nhận “Flowerbox.vn” – không hẳn là hợp pháp đâu
4.2
Tư vấn theo hướng chấp nhận là có vi phạm sở hữu phạm quyền sở hữu trí
tuệ đối với nhãn hiệu của Công ty Thuận lê và hướng giải quyết
Thứ nhất: Việc Công ty Anh Quân sử
dụng dấu hiệu “Flowerbox.vn” là có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của công ty
Thuận Lê vì dấu hiệu “Flowerbox.vn” được sử dụng trên giao diện website:
Flowerbox.vn và được gắn trên biển hiệu của Cửa hàng Flower Box.vn trùng với
nhãn hiệu được bảo hộ của công ty Thuận Lê là “Flowerbox, not just flower, we
deliver your feelings”.theo điểm c Khoản 1 Điều 129 Luật SHTT. Do đó Công ty
Anh Quân sẽ phải dừng hành vi vi phạm nhãn hiệu này, tiến hành đăng ký nhãn hiệu
khác để kinh doanh và không vi phạm quy định của pháp luật SHTT về nhãn hiệu.
Thứ hai: Đối với yêu cầu thông báo
xin lỗi trên phương tiện thông tin báo trí mà Công ty Thuận Lê đưa ra đối với
Công ty Anh Quân, thì theo quy định tại mục B Khoản IV Điểm 2.2 của Thông tư
liên tịch số 02/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/04/2008
“2.2. Trong trường hợp các bên không thoả thuận
được với nhau về nội dung, cách thức thực hiện việc xin lỗi, cải chính công
khai và chi phí thực hiện, thì Toà án căn cứ vào tính chất hành vi xâm phạm và
mức độ, hậu quả do hành vi đó gây ra quyết định về nội dung, thời lượng xin lỗi,
cải chính công khai và chi phí thực hiện. Việc xin lỗi, cải chính công khai có
thể được thực hiện trực tiếp tại nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại hoặc
đăng công khai trên báo hàng ngày của cơ quan trung ương, báo địa phương nơi có
địa chỉ chính của người bị thiệt hại trong ba số liên tiếp.” Đối với yêu cầu
này hai bên có thể thỏa thuận với nhau về việc thực hiện, do đó phía Công ty
Anh Quân có thể thỏa thuận với Công Ty Thuận Lê về việc là xin lỗi thực hiện trực
tiếp tại nơi có địa chỉ Công ty Thuận Lê để tránh việc đăng tin xin lỗi trên
báo gây ảnh hưởng đến uy tín hoạt động kinh doanh của công ty sau này.
Thứ ba: Yêu cầu bồi thường thiệt hại
đối của Công ty Thuận Lê đối với Công ty Anh Quân là không có cơ sở nên Công ty
Anh Quân không phải bồi thường cho Công ty Thuận Lê.
Bài
tập 2.
Năm 2008, công ty Việt My sản xuất
và kinh doanh sữa tắm mang nhãn hiệu “Thebol” đã được cấp giấy chứng nhận đăng
ký nhãn hiệu. Vì muốn lợi dụng danh tiếng của sản phẩm này, ông Vinh đã sử dụng
dấu hiệu “Thebol” gắn lên sản phẩm sữa tắm của mình (với chất lượng kém hơn) và
đem bán lẻ tại các sạp chợ, cửa hàng tạp hóa. Đầu năm 2012, công ty Việt My
phát hiện hành vi trên và khởi kiện ông Vinh tại Tòa án cùng với các yêu cầu:
(1) Buộc ông Vinh chấm dứt sản xuất
và bán sản phẩm mang dấu hiệu “Thebol”;
(2) Buộc bồi thường các khoản thiệt
hại: 49.000.000 đồng là khoản tiền tương đương doanh thu từ 110 thùng sữa tắm
mà ông Vinh đã bán được; 16.200.000 đồng là tiền mà công ty Việt My đã bỏ ra để
mua sản phẩm của ông Vinh nhằm giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền; 50.000.000 đồng
chi phí thuê luật sư tư vấn.
Câu hỏi:
1/
Hành vi của ông Vinh có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của công ty Việt My
không? Vì sao?
Thêm
điểm a khoản 3 Điều 6
Khoản
6 Điều 93 – còn hiệu lực
Công
ty Việt My sản xuất và kinh doanh sữa tắm mang nhãn hiệu Thebol, nhãn hiệu này
đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Vì thế, công ty Việt My là chủ
sở hữu đối với nhãn hiệu Thebol (Căn cứ khoản 1 Điều 121 Luật SHTT).
Trong
khi đó ông Vinh đã có hành vi sử dụng dấu hiệu Thebol gắn lên sản phẩm sữa tắm
của mình và đem bán tại các sạp chợ, cửa hàng bán tạp hóa. Vì thế, căn cứ vào
điểm a khoản 1 Điều 129 Luật SHTT, Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP, khẳng định
rằng ông Vinh đã xâm phạm tới quyền sở hữu trí tuệ của công ty Việt My.
2/
Theo pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành, những yêu cầu trên của công ty Việt My
có được chấp nhận hay không? Nêu rõ căn cứ pháp lý.
Đối với yêu cầu đầu tiên: Luật SHTT và các văn
bản liên quan chỉ quy định bên bị xâm phạm yêu cầu bên xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm (ở đây là việc sử dụng dấu hiệu
“Thebol” trên sản phẩm sữa tắm) cho nên ở đây có thể hiểu là công ty Việt My chỉ
có thể yêu cầu ông Vinh ngưng sử dụng dấu hiệu “Thebol” trên sản phẩm sữa tắm của
ông Vinh. (CSPL: Điều 198 LSHTT + Điều 202)
Yêu cầu thứ hai “việc bán ra 110 thùng sữa tắm
của ông Vinh”
Không được lấy doanh thu (chỉ là con số chưa trừ
các chi phí khác: vận chuyển, quảng cáo,…) làm căn cứ mà phải lấy lợi nhuận (thực
tế số tiền mà công ty lấy về)
16tr – Có thể xem là chi phí hợp lý: Công ty Việt
My mua để nộp nhiều cơ quan xem xét và công ty không muốn sản phẩm kém chất lượng
đó trên thị trường càng lâu thì danh tiếng của công ty ngày càng bị xâm phạm –
có thể được bồi thường – Sô tiền này hiện công ty ông Vinh giữ thì yêu cầu ông
Vinh trả.
Đối với yêu cầu trả tiền thuê luật sư – có thể
được chấp nhận vì căn cứ khoản 3 Điều 205 – Nhưng phải là chi phí hợp lý do tòa
quyết định – Căn cứ vào luật luật sư (các tiêu chí để trả tiền cho luật sư – 16
tiêu chí – giờ, vụ việc, thâm niên,….)
3/
Giả sử năm 2009, ông Vinh nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “Thebol” cho sản phẩm sữa tắm,
cơ quan có thẩm quyền có cấp văn bằng bảo hộ cho ông không? Vì sao?
Cơ
quan có thẩm quyền sẽ Từ chối cấp văn bằng bảo hộ Điều 117
Căn
cứ vào Điều 72 sau đó dẫn chiếu điểm e khoản 2 Điều 74 – trùng nhãn hiệu trùng
lĩnh vực đã đăng ký.
Tại Việt Nam, nguyên tắc để được cấp văn bằng bảo
hộ là nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên cho nên với việc công
ty Việt My đã đăng ký và được cấp bằng bảo hộ với nhãn hiệu “Thebol” đối với sản
phẩm sữa tắm từ năm 2008 sẽ dẫn tới việc nộp đơn đăng ký cấp văn bằng bảo hộ đối
với nhãn hiệu “Thebol” cho sản phẩm sữa tắm của ông Vinh vào năm 2009 sẽ không
được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận.
CSPL: điểm g khoản 2 Điều 74, Điều 90, Điều 91 Luật SHTT
4/
Hiện nay, hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đang diễn ra phổ biến. Theo
bạn, có những giải pháp nào để khắc phục tình trạng này?
Một là, cần
có văn bản giải thích rõ ràng thế nào là “nhãn hiệu, dấu hiệu khó phân biệt
với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng
đó” việc này có ý nghĩa rất lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thực
thi một cách chủ động và chính xác. Đồng thời cũng hạn chế tình trang phải
trưng cầu giám định, rút ngăn thời gian xử lý, bảo đảm quyền lợi của chủ văn bằng.
Hai
là, tăng mức tiền xử phạt hành chính hiện nay. Trong một số trường hợp
mặc dù pháp luật sở hữu trí tuệ cũng như các văn bản hướng dẫn đều có quy định
cụ thể mức tiền phạt áp dụng đối với cá nhân tổ chức thực hiện hành vi vi phạm.
Theo đó, mức phạt tiền tối đa áp dụng cho cá nhân là 250.000.000 đồng còn đối với
tổ chức là gấp 2 lần đối với cá nhân - là 500.000.000 đồng. Tuy nhiên mức phạt
tiền này theo nhận định của Ủy ban Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (Eurocham)
đánh giá là quá thấp[5].
Cũng vì lý do mức
phạt được thiết kế theo mức trần do đó tác dụng ngăn ngừa vi phạm thực sự có
tác dụng rất thấp và có phần hạn chế. Điều này lý giải vì sao trên thực tế hành
vi xâm phạm nhãn hiệu ngày càng phổ biến và lan rộng cả về quy mô lẫn số lượng.
Do đó, nhằm giảm thiểu hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, việc cần thiết
theo tác giả, đó chính là mức xử phạt nên được nâng cao hơn so với quy định hiện
hành. Tiền phạt nên tính theo tỷ lệ với mức độ vi phạm. Và các quy định về mức
phạt tối đa như hiện nay không nên được áp dụng, bởi lẽ cơ chế này đã bộc lộ những
bất cập trong việc xử lý hành vi xâm phạm. Khi mức phạt không thoả đáng, thì
quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu không được giải quyết triệt
để và không được bảo vệ một cách triệt để.
Ba là, nên
bỏ quy định xử phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm các đối tượng sở hữu trí
tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng, bởi lẽ biện pháp này không có tính răn đe
cao, dẫn đến người vi phạm không quan tâm. Vả lại các hành vi xâm phạm này là
xâm phạm về tài sản, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nên cần có chế
tài mang tính chất tài sản áp dụng đối với người vi phạm.
Bốn là, yêu
cầu về tính minh bạch trong xử lý vi phạm hành chính. Bên cạnh đó, điều quan trọng
nhất trong việc xử lý vi phạm hành chính đó là quá trình xử phạt hành chính cần
phải minh bạch hơn. Để đáp ứng được yêu cầu này, nhất thiết các số liệu và
thông tin có liên quan phải được công bố công khai. Những hồ sơ của các khoản
phạt hành chính, thông tin liên quan đến đối tượng xâm phạm quyền đối với nhãn
hiệu cũng phải được minh bạch hơn[6]. Điều
này ở một mức độ nhất định có tác dụng trong việc ngăn ngừa và cảnh báo hành vi
xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.
Bên cạnh đó, việc
cần thiết là phải có sự lưu trữ hồ sơ đầy đủ và chính xác về các khoản phạt
hành chính, các vụ tịch thu hàng hóa, tiêu hủy hàng hóa hoặc các biện pháp hành
chính khác. Về vấn này, các cơ quan chức năng nên lập thành một cơ sở dữ liệu
quốc gia (database) về các vấn đề trên một cách công khai. Điều này tạo điều kiện
thuận lợi trong việc theo dõi, kiểm tra các chủ thể đã từng thực hiện hành vi
xâm phạm nhãn hiệu. Đồng thời, trong trường hợp các chủ thể này thực hiện việc
tái phạm sẽ có cơ sở để xử lý hình sự một cách thuận tiện dễ dàng.
B.
Phần Câu hỏi sinh viên tự làm và KHÔNG thảo
luận trên lớp với Giảng viên:
1/
Theo quy định của pháp luật SHTT, việc
công ty Hàng gia dụng quốc tế sử dụng nhãn hiệu X-Men có xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ của công ty Marvel không? Nêu cơ sở pháp lý.
Việc công ty Hàng gia dụng quốc tế
sử dụng nhãn hiệu X-Men là không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Bởi vì trong bản
án có nói rõ là công ty Marvel đã không xác lập được quyền sở hữu đối với nhãn
hiệu X-Men, khi xuất trình bằng chứng thì cục SHTT đã cấp chứng nhận bảo hộ cho
công ty Hàng Gia Dụng. Và công ty Marvel không có sản phẩm cùng loại là mỹ phẩm
đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam . và việc công ty Marvel cho
công ty Hàng gia dụng sử dụng hình ảnh để quáng cáo cũng không có bằng chứng.
Không đủ chứng cứ để để chứng minh công ty Gia Dụng quốc tế không trung thực và
lợi dụng sự nổi tiếng của nhãn hiệu X-Men.
Những hành vi của công ty Hàng gia
dụng quốc tế không thuộc trường hợp quy định tại K1 Điều 129 LSHTT nên sẽ không
bị coi là xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu.
2/
Theo Tòa án xác định trong bản án số
15, Quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa X-Men và hình cho
công ty Hàng gia dụng quốc tế là đúng hay sai? Vì sao Tòa án lại xác định như vậy?
Theo tòa án xác định Quyết định cấp
giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa X-men và hình cho công ty Hàng gia dụng
quốc tế là đúng. Bởi vì:
Thứ nhất về sở hữu nhãn hiệu: tại
thời điểm Công ty Hàng gia dụng quốc tế nộp hồ sơ tại Cục SHTT thì nhãn hiệu
X-Men của Công ty Marvel chưa được thực hiện đăng ký tại Việt Nam và tới tháng
11/2016 Công ty Marvel mới xuất trình bằng chứng sử dụng nhãn hiệu tại Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, đến thời điểm này thì Cục SHTT đã cấp chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu
“X-Men” cho sản phẩm thuộc nhóm 3 của Công ty Hàng gia dụng quốc tế, Việt Nam.
Thứ hai, theo Tòa án có cơ sở kết
luận Công ty Hàng không gia dụng quốc tế không lợi dụng uy tín, khia tahsc bản
quyền của Công ty Marvel.
3/
Quan điểm của tác giả bình luận có
cho rằng việc sử dụng nhãn hiệu X-Men của công ty Hàng gia dụng quốc tế có gây
ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa không? Vì sao?
Theo quan điểm của tác giả thì
không có sự nhầm lẫn cho người tiêu dung về nguồn gốc của hàng hóa. Bởi vì:
Theo tác giả thì dấu hiệu bị xem là
gây nhầm lẫn, hiểu sai lệch hay lừa dối người tiêu dung về nguồn gốc xuất xứ
hàng hóa khi dấu hiệu đó thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu:
Một là, trùng hay tương tự với tên
gọi, hoặc hình ảnh nhân vật, hoặc hình tượng đặc trưng của tác phẩm.
Hai là, các đối tượng này đã được
biết đến một cách rộng rãi.
Ba là, làm cho người tiêu dung tưởng
rằng hàng hóa mang dấu hiệu doc hủ sở hữu tác phẩm đó sản xuất, thực hiện.
Đối với vụ việc nêu trên, về điều
kiện thứ nhất, theo tác giả thì tên gọi và hình ảnh nhân vật không trùng hay
tương tự nhau.
Điều kiện thứ ba cũng không thỏa
mãn. Theo tác giả khái niệm X-MEN của Công ty Marvel được biết đến trong lĩnh vực
phim, truyện, tuy nhiên lĩnh vực sả xuất mỹ phẩm chi nam giới thì Công ty
Marvel chưa từng có bất kỳ sản phẩm hay
thông tin nào cho thấy điều đó tại Việt Nam.
4/
Theo quan điểm của bạn, hướng giải
quyết của Tòa án trong tranh chấp này có phù hợp không? Giải thích vì sao.
Hướng giải quyết của Tòa án trong
tranh chấp này là hoàn toàn phù hợp. Căn cứ vào những lý do sau:
Tòa án đã căn cứ vào điểm d khoản 2
Điều 6 NĐ63/1996 để khẳng định nhãn hiệu X-MEN của Công ty Hàng gia dụng quốc tế
không làm cho người tiêu dùng hiểu sai hay nhầm lẫn về xuất xứ của hàng hóa
mang nhãn hiệu X-MEN (mỹ phẩm dành cho người ở nhóm 3). Nghĩa là, người tiêu
dùng khi sử dụng hàng hóa gắn nhãn hiệu X_MEN không thể nhầm lẫn đây là sản phẩm
của Công ty Marvel mà có thể phân biệt được hàng hóa này là của một chủ thể
kinh doanh khác.
Công
ty Marvel được biết đến với khái niệm X-MEN là dùng cho các nhân vật trong truyện
tranh, phim, trò chơi còn khái niệm X-MEN của Công ty Hàng gia dụng quốc tế
dùng cho sản phẩm mỹ phẩm dành cho người. Hai đối tượng này thuộc hai lĩnh vực
khác nhau, theo BLDS 1995 và nghị định 63/1996 là “không cùng loại”, nên không
thể xem xét sự nhầm lẫn về xuất xứ khi sản phẩm dược đầu tư, kinh doanh thuộc
lĩnh vực khác nhau.
Tên
gọi X-MEN của Công ty Marvel không phải tên của một nhân vật cụ thể trong tác
phẩm được bảo hộ quyền tác giả, mà X-MEN là tên chung của một nhóm người có chứa
gen đột biến X. Mỗi nhân vật trong nhóm lại có tên gọi khác nhau và các tên gọi
này mới là tên nhân vật trong tác phẩm. Hơn nữa, hình tượng các tác phẩm liên
quan đến nhóm X-MEN của công ty Marvel là các siêu anh hùng có gen đột biến, mỗi
người có một năng lực đặc biệt khác nhau. Còn thong điệp mà sản phẩm mang nhãn
hiệu X-Men của công ty Hàng gia dụng quốc tế mang đến là “Người đàn ông đích thực”,
là các mỹ phẩm dành cho nam như dầu gội, nước hoa…
Như vậy, nhãn hiệu X-MEN của công
ty hang gia dụng quốc tế không làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn, hiểu sai đối với
nguồn gốc xuất xứ hàng hóa. Và nhãn hiệu này không thuộc trường hợp dấu hiệu
không được bảo hộ là nhãn hiệu.
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^