SHTT - Thảo luân lần thứ 5 - Các quyền sở hữu trí tuệ khác


A. Phần Câu hỏi sinh viên tự làm và CÓ thảo luận trên lớp với Giảng viên:
1/ Phần lý thuyết:
a/ So sánh cơ chế bảo hộ nhãn hiệu và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng.
*Giống nhau: đối với nhãn hiệu hay nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ cần phải đáp ứng điều kiện như nhau:
- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
- Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác
- Cở sở pháp lý: Điều 72 Luật SHTT.
*Khác nhau
Tiêu chí
Cơ chế bảo hộ nhãn hiệu
Cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
Khái niệm
 khoản 16 Điều 4 SHTT: “nhãn hiệu là dấu hiệu dung để phân biệt  hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
khoản 20 Điều 4 LSHTT quy định: “nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dung biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”.
Căn cứ xác lập quyền.

Đối với nhãn hiệu này thì phải đăng ký.
Điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT.
Trên cơ sở sử dụng nhãn hiệu, không cần phải đăng ký.
Điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT.
về thời hạn

Theo quy định tại Điều 93 LSHTT thì có thời hạn là mười năm và có thể ra hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.
Với nhãn hiệu này là đến khi nhãn hiệu này không còn đáp ứng được các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 75 LSHTT
Cơ chế bảo hộ trong việc đăng ký.
Cơ chế bảo họ trong việc đăng ký thì chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ có quyền phản đối việc đăng ký hoặc yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với các dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn đối với hàng hóa, dịch vụ.

Tại điểm i khoản 2 Điều 74 LSHTT có quy định dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hang hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng.
về cơ chế bảo hộ trong việc bảo hộ hành vi xâm phạm

cơ chế bảo hộ trong việc bảo hộ hành vi xâm phạm cho sản phẩm trùng hoặc tương tự không được cho sản phẩm khác loại

 Nhãn hiệu nổi tiếng: được quy định ở điểm d khoản 1 Điều 129 SHTT


b/ So sánh nhãn hiệu và tên thương mại.
* Giống nhau
- Đều là các chỉ dẫn thương mại xuất hiện trên hàng hóa, giúp người tiêu dùng phân biệt.
- Phải là những dấu hiệu nhìn thấy được.
- Có khả năng phân biệt.
* Khác nhau
Tiêu chí
Nhãn hiệu
Tên thương mại
Khái niệm
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”
Khoản 16 điều 4 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009

“Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh  để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
Khoản 21 điều 4 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009
Căn cứ xác lập
Đăng ký đối với nhãn hiệu thông thường. (Điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT)
Không đăng ký đối với nhãn hiệu nổi tiếng (Điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT)
Không cần đăng ký. Được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp (Điểm b  khoản 3 Điều 6 Luật SHTT)
Dấu hiệu
Có thể là những từ ngữ hình ảnh, biểu tượng, là sự kết hợp giữa ngôn ngữ và hình ảnh
Không bảo hộ những cụm từ, dấu hiệu quy định tại khoản 2 điều 74 Luật SHTT
Chỉ là dấu hiệu từ ngữ, không bảo hộ màu sắc, hình ảnh
Gồm 2 thành phần:
- Mô tả
- Phân biệt
Số lượng
Một chủ thể kinh doanh có thể đăng ký sở hữu nhiều nhãn hiệu.
Một chủ thể sản xuất kinh doanh chỉ có thể có một tên thương mại
Điều kiện
Phải đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ
Chỉ cần sử dụng hợp pháp tên thương mại
Phạm vi bảo hộ
Bảo hộ trên phạm vi toàn quốc
Bảo hộ trong lĩnh vực và khu vực kinh doanh
Thời hạn bảo hộ
10 năm, có thể gia hạn
Bảo hộ không xác định thời hạn, chấm dứt khi không còn sử dụng
Chuyển giao
Nhãn hiệu có thể là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng chuyển quyền sử dụng.
Chỉ có thể là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng với điều kiện là việc chuyển nhượng tên thương mại kèm theo việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh.
*Thêm cơ sở pháp lý cho bảng.
c/ Tìm ví dụ thực tế về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. Nêu hướng xử lý theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành.
Vụ tranh chấp giữa công ty TNHH Hồng Phát và công ty chuyển phát nhanh DHL.
Xem xét vụ việc đã xét xử chưa + ghi nguồn
Nội dung vụ việc:
Công ty TNHH Hồng Phát (gọi tắt là công ty Hồng Phát) có trụ sở chính tại Hà Nội, do bà Ngô Thị Bích Hồng làm giám đốc. Văn phòng đại diện của công ty này ở thành phố Hồ Chí Minh đặt tại số 166 Chu Văn An, Phường 2, Quận 6 dó bà Nguyễn Thị Hạnh làm trưởng đại diện. Công ty này chuyên kinh doanh đồ chơi trẻ em, văn phòng phẩm và hàng may mặc, là nhà phân phối cho một số siêu thị lớn tại thành phố Hồ Chí Minh như hệ thống Coop, Metro,… Ngày 28/8/2008 phía đối tác Trung Quốc chuyển cho công ty Hồng Phát  một bao thư thông qua công ty TNHH chuyển phát nhanh DHL (gọi tắt là công ty DHL). Trên bì thư ghi rõ địa chỉ nhận là Nguyễn Thị Hạnh, số 166 Chu Văn An, Phường 2, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Thế nhưng không hiểu sao bao thư nói trên lại “lạc” thẳng tới công ty TNHH Hải Long (gọi tắ là công ty Hải Long) ở số 8A Cao Văn Lầu, Quận 6. Công ty Hải Long là đối thủ cạnh tranh trực tiếp, kinh doanh mặt hàng giống như Hồng Phát. Đến trưa ngày 29/8/2008,  nhân viên công ty Hồng Phát  nhận lại được bao thư nói trên nhưng người chuyển thư trở lại không phải là nhân viên chuyển phát của công ty DHL mà là nhân viên công ty Hải Long. Điều đáng nói khi nhận được bao thư này, nhân viên công ty Hồng Phát phát hiện nó đã bị xé niêm phong. Bên trong thì hồ sơ, giấy tờ vẫn còn đầy đủ (bao gồm hợp đồng thương mại ký kết với đối tác tại Quảng Châu và bảng giá mặt hàng cũng như tờ rơi giới thiệu sản phẩm). Đại diện công ty TNHH Hông Phát còn cho biết, thiệt hại gây ra trong vụ này rất lớn, ước tính khoảng 5 tỷ đồng, bởi vì hợp đồng ký với đối tác Trung Quốc có thể bị hủy do đối thủ cạnh tranh trực tiếp đã biết hết thông tin bí mật kinh doanh của họ.
Hướng xử lý:
Áp dụng quy định tại Điều 202 luật SHTT.
Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:
1. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm.
2. Buộc xin lỗi, cải chính công khai.
3. Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự.
4. Buộc bồi thường thiệt hại.
5. Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
2/ Phần bài tập:
BÀI TẬP 1: Đọc, nghiên cứu Bản án số 72/2008/KDTM-PT ngày 23/5/2008 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Tp. HCM (Bản án số 24[1] - Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam) và trả lời các câu hỏi sau:
a/ Quyền đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở nào? Trong bản án, chủ thể nào có quyền sở hữu hợp pháp chỉ dẫn thương mại “Hưng Thịnh”?
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 6, Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó”
Nhãn hiệu hàng hóa “Hưng Thịnh” đã được cấp cho cơ sở Hưng Thịnh theo GCN đăng ký nhãn hiệu hàng hóa số 38643 do Cục Sở hữu công nghệ- Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường cấp ngày 22/01/2001. Sau đó ngày 21/9/2001 cơ sở Hưng Thịnh đăng ký kinh doanh lại và chuyển đổi thành Công ty TNHH sản xuất kinh doanh nước mắm Hưng Thịnh và được cục sở hữu công nghiệp sửa đổi tên và đại chỉ của chủ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Nhãn hiệu “Hưng Thịnh”đã được người tiêu dùng biết rộng rãi trên thị trường, chứng minh qua các chứng nhận Hàng Việt Nam chất lượng cao nhiều năm liền. Đồng thời, tên công ty TNHH sản xuất kinh doanh nước mắm Hưng Thịnh cũng là tên thương mại được xác lập từ trước, trong đó thành phần “Hưng Thịnh” vừa là nhãn hiệu của hàng hóa vừa là tên gọi riêng của công ty TNHH sản xuất kinh doanh nước mắm Hưng Thịnh.
Do đó, chủ thể có quyền sở hữu hợp pháp đó là công ty TNHH sản xuất kinh doanh nước mắm Hưng Thịnh.
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 121 Luật SHTT.
b/ Việc sử dụng tên thương mại “cơ sở Hưng Thịnh” của bị đơn có đáp ứng điều kiện bảo hộ tên thương mại không? Vì sao?
Căn cứ vào Điều 76, Điều 78 Luật SHTT thì việc sử dụng tên thương mại “cơ sở Hưng Thịnh” đã không đáp ứng điều kiện bảo hộ.
Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Điều 78. Khả năng phân biệt của tên thương mại
Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng.
2. Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
3. Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.
Tên thương mại của cơ sở Hưng Thịnh gồm các thành phần:
· Tên loại hình kinh doanh: cơ sở (hộ kinh doanh cá thể).
· Tên gọi riêng: HƯNG THỊNH
Tên riêng này trùng với nhãn hiệu HƯNG THỊNH và trùng với tên riêng của Công ty Hưng Thịnh đã được xác lập từ trước khi cơ sở Hưng Thịnh được thành lập nên tên thương mại của cơ sở Hưng Thịnh đã vi phạm điều kiện bảo hộ tên thương mại.
c/ Phân tích các yếu tố tạo thành hành vi xâm phạm tên thương mại. Trong vụ việc này, hành vi của bị đơn có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn không?
2. Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.
Như vậy để xác định có xâm phạm tới tên thương mại thì cần xác định các căn cứ sau:
Thứ nhất: Chỉ dẫn thương mại có trùng hoặc tương đương với tên thương mại của người khác hay không?
Thứ hai: Sản phâm, dịch vụ có tương đương hay gây nhầm lẫn với các chủ thể kinh doanh khác hay không?
Trong vụ việc, bị đơn có xâm phạm tới quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất: đã dùng chỉ dẫn thương mại “Hưng Thịnh”
Thứ hai: Kinh doanh cùng lĩnh vực, đó là sản xuất kinh doanh nước mắm. (thị trường lien quan – TPHCM – Bình Dương)
d/ Trong bản án, biện pháp chế tài nào đã được Tòa án áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm?
Tòa án áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm là biện pháp buộc chấm dứt hành vi phạm (Khoản 1 Điều 202 Luật SHTT 2005) và biện pháp buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự (Khoản 3 Điều 202 Luật SHTT 2005).
Cấm ông Thiện chủ cơ sở Hưng Thịnh sử dụng tên thương mại trong đó có chứa thành phần “Hưng Thịnh”.
Buộc ông Thiện phải đăng ký kinh doanh lại với tên gọi không trùng hoặc gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “Hưng Thịnh” và tên thương mại của công ty TNHH sản xuất kinh doanh nước mắm Hưng Thịnh.
BÀI TẬP 2: Nghiên cứu tình huống sau:

Bà P là nhân viên làm việc tại công ty M. Trước đây, bà P đã gửi e-mail cho bà L (chị của bà P) với nội dung “…Chị ơi, đây là danh mục hàng áo khoác và quần của công ty M… kèm theo danh mục”. Công ty cho rằng bà P có hành vi vi phạm nội quy lao động, cụ thể là tiết lộ bí mật kinh doanh của công ty theo phần 4 Điều 4.1 Nội quy công ty.

Điều 4.1 Nội quy công ty có quy định: “trong quá trình làm việc cho công ty M, nhân viên có thể có được tài liệu hoặc biết được thông tin về công ty. Những thông tin hay tài liệu này nếu tiết lộ cho những cá nhân không có liên quan có thể gây hại về vật chất cũng như ảnh hưởng không tốt cho công ty. Hành động tiết lộ đó dù cố tình hay sơ suất đều có thể xem như vi phạm hợp đồng và phải chịu biện pháp kỷ luật kể cả việc sa thải”. Trên cơ sở đó, công ty trên đã thực hiện sa thải bà P.

Câu hỏi:
a/ Nêu căn cứ xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh. Những thông tin trong e-mail mà bà P đã gửi có được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh theo Luật Sở hữu trí tuệ không?
-         Nêu căn cứ xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 6 Luật SHTT: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo hộ bí mật kinh doanh đó”
Theo quy định hướng dẫn của Nghị định 103/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở đầu tư tài chính, trí tuệ hay bất kỳ cách thức hợp pháp nào để tìm ra, tạo ra hoặc đạt được thông tin và bảo mật thông tin tạo thành bí mật kinh doanh đó mà không thực hiên thủ tục đăng ký.”[2]
*có thể tham khảo thêm Hiệp định TRIP
Do tính chất đặc thù của Bí mật kinh doanh nên pháp luật không đặt ra cơ chế đăng ký bảo hộ đối với đối tượng này. Như vậy, quyền sở hữu công nghiệp của chủ thể được bảo hộ theo nguyên tắc tự động mà không phải qua một thủ tục pháp lý nào.[3]
-         Những thông tin trong e-mail mà bà P đã gửi không được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh theo Luật Sở hữu trí tuệ
Theo quy định của Luật SHTT, bí mật kinh doanh (sau đây viết tắt là BMKD) là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh[4]. Chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo hộ bí mật kinh doanh đó. Như vậy, có thể thấy rằng thông tin chỉ được xem là BMKD khi mà thông tin đó đáp ứng được các điều kiện sau:[5]
-  Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được.
-  Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ BMKD lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng BMKD đó (mang lại hiệu quả kinh tế).
-  Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết đối với BMKD đó.
-  Không thuộc các đối tượng không được bảo với danh nghĩa BMKD (bí mật nhân thân, bí mật về quản lý nhà nước, bí mật về quốc phòng, an ninh; thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh)[6].
Chúng ta bắt đầu phân tích về thông tin trong email mà bà P đã gửi:
Thứ nhất, thông tin này không thuộc các trường hợp không được bảo hộ với danh nghĩa là BMKD theo Điều 85 Luật SHTT (bí mật nhân thân, bí mật về quản lý nhà nước, bí mật về quốc phòng, an ninh; thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh)[7].
Thứ hai, thông tin này được chủ sở hữu bảo mật bằng biện pháp đó là quy định trong nội quy lao động của công ty nhằm hạn chế cho người lao động có “tài liệu hoặc biết được thông tin về công ty” tiết lộ ra bên ngoài, thì đây cũng là một hình thức bảo mật cần thiết và phù hợp.
Thứ ba, về điều kiện “Không phải là hiểu biết thông thường không dễ dàng có được”
-  Thông tin không phải là hiểu biết thông thường mà là những thông tin có giá trị ứng dụng trong kinh doanh thương mại, đem lại lợi ích kinh tế cho chủ thể.
-  Thông tin không dễ dàng có được mà đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng của chủ thể về vật chất, thời gian, công sức, trí tuệ và qua những trãi nghiệm mới có được
è Cho thấy thông tin trong email của bà P gửi không đáp ứng được điều kiện này vì những thông tin qua lại giữa bà P và bà L là những thông tin bình thường về sản phẩm của công ty (danh mục hàng áo khoác và quần của công ty M… kèm theo danh mục) và không chứa đựng các bí mật. (Thầy nói bảo mật như vậy là chưa đủ)
Thứ tư, vì thông tin này không đáp ứng điều kiện thứ ba vừa phân tích trên dẫn đến khi chủ thể sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thì không chiếm ưu thế hơn so với các chủ thể khác kinh doanh khác cùng lĩnh vực.
Như vậy, thông tin trong e-mail mà bà P đã gửi có không được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh theo Luật Sở hữu trí tuệ.
b/ Hành vi của bà P trong tình huống trên có xâm phạm bí mật kinh doanh của công ty không?
Vì như đã phân tích, thông tin trong e-mail mà bà P đã gửi có không được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh theo Luật Sở hữu trí tuệ cho nên hành vi của bà P không được xem là xâm phạm bí mật kinh doanh của công ty.
Có thể phân tích thêm về tình huống này là hành vi của bà P có thể vi phạm pháp luật lao động, do hành vi của bà P có dấu hiệu vi phạm nội quy lao động của công ty, nhưng để kết luận được có vi phạm hay không thì công ty cần phải chứng minh được việc tiết lộ thông tin này có thể gây hại về vật chất cũng như ảnh hưởng không tốt cho công ty.
B. Phần Câu hỏi sinh viên tự làm và KHÔNG thảo luận trên lớp với Giảng viên:
Đọc, nghiên cứu Bản án số 30 và 31 “Tên miền và mối liên hệ với quyền sở hữu trí tuệ” (gồm cả phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam[8] và trả lời các câu hỏi sau đây:
1/ Tên miền là gì? Tên miền có là một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ không?
Tên miền được đề cập trong Luật SHTT và Luật Công nghệ thông tin và được định nghĩa tại Thông tư 10/2008/TT-BTTT “là tên được sử dụng để định danh các địa chỉ Internet”.
Tên miền thực chất là một dấu hiệu phân biệt nhưng lại không được bảo hộ với tư cách là đối tượng của quyền SHTT[9]. Tuy nhiên tranh chấp tên miền thường gắn liền với một đối tượng của quyền SHTT, bởi vì hành vi sử dụng tên miền là một trong những hành vi cạnh tranh (lành mạnh hoặc không lành mạnh) liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của Luật SHTT.
2/ Hiện nay, việc khai thác, sử dụng tên miền được điều chỉnh bởi những văn bản nào?
- Thông tư số 16/2016/TT-BTTTT ngày 28/6/2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền Internet được cấp không thông qua đấu giá
 - Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2013 của Chính phủ hướng dẫn về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng
- Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT ngày 18 tháng 8 năm 2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
 - Thông tư số 189/2010/TT-BTC ngày 24/11/2010 của Bộ Tài chính quy định về phí, lệ phí tên miền quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí tên miền quốc gia và địa chỉ Internet của Việt Nam
- Thông tư 10/2008/TT-BTTT ngày 24/12/2008 do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành ngày 24/12/2008 quy định về giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam
- Khoản 3, Điều 12 và Khoản 2 Điều 68 Luật CNTT 2006

3/ Trong hai vụ việc trên, Tòa án đã dựa trên cơ sở pháp lý nào để thu hồi các tên miền đã được đăng ký?
Đối với vụ việc thứ nhất, Tòa sử dụng Luật Công nghệ thông tin, Nghị định 97/2008 và Thông tư 10/2008/TT-BTTT
Đối với vụ việc thứ hai, Tòa sử dụng Luật SHTT và Thông tư 10/2008/TT-BTTT
4/ Pháp luật các quốc gia khác quy định như thế nào về trường hợp tên miền trùng hay tương tự với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ?
Theo khoản 2 Điều L.45-2 Bộ luật Bưu chính và viễn thông Pháp: “Đăng ký hay đăng ký lại tên miền bị từ chối hay đăng ký tên miền bị bỏ khi tên miền có thể xâm hại đến các quyền SHTT”[10].




[1] Trường Đại học Luật TP.HCM, Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2016, trang 410.
[2] Khoản 4 Điều 6 Nghị định 103/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.
[3]  Lê Nết và các tác giả khác (2015), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, NXB Hồng Đức, TP.Hồ Chí Minh, tr 362.
[4] Khoản 23 Điều 4 Luật SHTT.
[5] Điều 84 Luật SHTT.
[6] Điều 85 Luật SHTT.
[7] Điều 85 Luật SHTT.
[9] Trường Đại học Luật TP.HCM, Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2016, trang 532.
[10] Trường Đại học Luật TP.HCM, Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2016, trang 536.

Nhận xét

Đăng nhận xét

Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^

Bài đăng phổ biến từ blog này

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu ver 2

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu

Hình sự- Bài tập - CÁC TỘI PHẠM VỀ QUẢN LÝ