Bài tập tình huống TTHC
Truy cập website mới để xem và tải nhiều tài liệu hơn nhé --> tuihocluat.com
Giảng viên: Lê Việt Sơn
Luật tố tụng hành chính
Giảng viên: Lê Việt Sơn
Đóng góp bởi: Linh Hoàng
Bài làm
Câu 1:
1. Thành phần, tư cách của những người tham gia tố tụng trọng vụ án
trên là:
·
Bên khởi kiện: bà Châu (Khoản 8 Điều 3 Luật
TTHC)
·
Bên bị khởi kiện: UBND quận X, TP.H
Người đại diện theo PL: căn cứ vào Điều 60 Luật TTHC
2015, là Chủ tịch UBND quận X. CT có thể ủy quyền cho cấp phó của mình theo quy
định của pháp luật.
·
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phụng
2. Quyết định của Hội đồng xét xử là không phù hợp với qui định của
pháp luật TTHC.
Do yêu cầu của bà Châu không thuộc
các trường hợp phải hoãn phiên tòa, được qui định tại Điều 162 Luật TTHC 2015
Hướng giải quyết của HĐXX là tiếp
tục phiên xét xử, không được hoãn phiên tòa.
3. Căn cứ theo Điểm b Khoản
1 Điều 225 Luật TTHC, tòa sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Phương hướng xử lí: Quyết định của
TAND huyện X bị huỷ và giao cho TAND Huyện X xét xử lại thủ tục sơ thẩm.
CSPL: Khoản 1 Điều 274 Luật TTHC
2014, Khoản 2 Điều 272 Luật TTHC 2015
Câu 2:
1.
Công ty Sông Lô cần phải khởi kiện cả 2 quyết
định số 1058/QĐ-UB, 2267/QĐ-UB (vì đây là quyết định giải quyết khiếu nại của
chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang, thuộc đối tượng có thể bị khởi kiện).
CSPL: Nghị quyết 01/2015/NQ-HĐTP, Khoản 1,2 Điều 3 Luật
TTHC và Khoản 1 Điều 30 Luật TTHC.
2. Thành phần, tư cách của những người tham gia tố tụng:
Các bên
đương sự gồm có:
l Bên khởi kiện: Cty TNHH SL. Người đại diện theo PL: do
điều lệ công ty quy định (Khoản 8 Điều 3)
l Bên bị kiện: UBND tỉnh HG, do thẩm quyền thu hồi giấy
phép khai thác khoáng sản thuộc về UBND cấp tỉnh (CSPL: Điểm đ Khoản 1 Điều 81
Luật Khoáng sản 2010)
Chủ tịch
UBND Huyện HG.
Chúng ta
căn cứ vào luật chuyên nghành để xác định đối tượng bị khởi kiện.
3.
a) Cách thức xử lý của TA là chưa đúng theo quy định
tại Khoản 3 Điều 140 Luật TTHC 2015. Vì Khoản 3 Điều 140 quy định rõ: “Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới
hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện. Hết thời hạn này
mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến
hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án.”
Trường hợp nhận được
quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông
báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán
ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án
và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.”
Như vậy, 3 ngày sau khi
lập biên bản đối thoại, TAND đã nhận được QĐHC mới nhưng không có thông báo cho
các đương sự khác biết, đồng thời phía đương sự cũng chưa có hành động rút đơn
khởi kiện mà Tòa đã ban hành quyết định công nhận kết quả đối thoại thành là
chưa đúng với quy định của PL.
b)
Do ATND thành phố Hà Nội đã có sai phạm ngiêm trọng về mặt thủ tục tố tụng nên
Viện trưởng VKSND tỉnh HG có thể kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, theo Điều
221 Luật TTHC 2015.
Bài
3:
1.
Ông Khoa có thể khởi kiện công văn
của UBND phường TP, quận T, TP.H.
Do công văn là văn
bản núp bóng hành vi hành chính
2.
Việc bổ sung yêu cầu của ông Khoa,
việc xây dựng nhà tạm là không vượt quá do ông đã yêu cầu xem xét tính hợp pháp
của quyết định, còn yêu cầu bồi thường là vượt quá (do ông không yêu cầu bồi
thường thiệt hại từ lúc đầu).
Vì căn cứ theo Khoản
1 Điều 173, HĐXX chỉ chấp nhận nếu không vượt qua phạm vi khởi kiện ban đầu.
(vượt quá về pháp luật tranh chấp).
3.
Ông Khoa có thể bảo vệ quyền và lợi
ích của mình bằng cách làm đơn kháng cáo giám đốc thẩm lên TAND cấp cao.
Trong trường hợp
này là kháng cáo quá hạn thuộc quy định tại Điều 208 Luật TTHC 2015. Căn cứ vào
Khoản 4 Điều 32, Tòa án có thẩm quyền thụ lý và xét xử cấp sơ thẩm vụ việc trên
là TAND TP.H. Do đó, cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên theo trình
tự phúc thẩm là TAND cấp cao.
Thẩm quyền kháng
nghị thuộc về TAND cấp cao, theo Điểm a Khoản 1 Điều 266. Và cách thức xử lý là
Tòa cấp cao gửi trả hồ sơ vụ án cho tòa cấp tỉnh xét xử sơ thẩm lại, theo Khoản
3 Điều 272 Luật TTHC.
Bài 4:
1. Thành phần,
tư cách tham gia vụ kiện theo Khoản 8 và 9 Điều 3 Luật TTHC 2015
Người khởi kiện:
Cty TNHH Sông Lô. Người đại diện theo PL: do điều lệ công ty quy định (ông Tùng
tổng giám đốc công ty).
Người bị kiện:
UBND tỉnh HG.
Người đại diện theo PL: căn cứ
vào Điều 60 LTTHC 2015, là Chủ tịch UBND quận X. CT có thể ủy quyền cho cấp phó
của mình theo quy định của pháp luật
2. Quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án của TAND tỉnh HG là trái PL tố tụng.
Căn cứ theo Điểm e
Khoản 1 Điều 143, việc UBND thực hiện cam kết ban hành QĐ mới là chưa đủ để
đình chỉ giải quyết vụ án mà phía người khởi kiện cũng phải rút đơn khởi kiện,
trong trường hợp này, công ty TNHH Sông Lô chưa rút đơn kiện.
3. a) VT VKSNDTC phải
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, doi còn thời hạn kháng nghị, căn cứ theo
Điểm c Khoản 1 Điều 255 và Khoản 1 Điều 260 Luật TTHC 2015.
b)
Theo Điểm c Khoản 5 Điều 243 Luật TTHC 2015, Hội đồng xét xử cần tuyên bố hủy
bỏ quyết định của TAND Tỉnh HG và giao cho cấp sơ thẩm xét xử lại.
Bài
5
1. Căn
cứ theo Khoản 6 Điều 32 Luật TTHC 2015, tòa có thẩm quyền giải quyết là TAND
tỉnh KG.
Thời hiệu khởi
kiện là từ 31/8/2011 đến 31/8/2012 (Điểm a Khoản 1 Điều 116 Luật TTHC 2015).
2. Phán
quyết trên của Tòa là trái với quy định của PL.
Căn cứ vào khoản
Khoản 2 Điều 6, Điều 112 thì HĐXX chỉ có quyền kiến nghị CQNN có thẩm quyền xem
xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, không được tuyên giữ nguyên. Đây là sai phạm về mặt
tố tụng.
Nếu không đồng ý
với bản án sơ thẩm, ông Trung làm đơn kháng cáo phúc thẩm gửi đến TAND cấp cao
tại TP.HCM, theo Khoản 1 Điều 29 Luật tổ chức TAND 2014.
3. Yêu cầu bổ sung thêm của ông Trung sẽ không được TA
cấp phúc thẩm chấp nhận căn cứ theo Điều 220 Luật TTHC 2015, do đã vượt quá
phần xét xử của bản án sơ thẩm.
Bản
chất của xét xử phcú thẩm là xét xử lại quyết định, bản án của sơ thẩm chưa có
hiệu lực, không được vượt quá.
Bài 6:
1.
Vì cục Hải quan TP.HN là CQNN cấp tỉnh nên:
Căn cứ vào Khoản
3 Điều 32 LTTHC 2015, TAND có thẩm quyền xét xử sơ thẩm là TAND TP.HN. Tòa có
thẩm quyền xét xử phúc thẩm là TAND cấp cao tại HN.
Thành phần những
người tham gia tố tụng là: theo Khoản 8,9 Điều 3 Luật TTHC
·
Người khởi kiện: công ty cổ phần Ngọc Thanh- người
đại diện theo PL là tổng giám đốc công ty (Điều 60)
·
Người bị kiện: cục trưởng cục hải quan thành phố
HN
2.
Phán quyết của HĐXX sơ thẩm là trái PL.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 6, Điều 112 và Điểm b
Khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015, HĐXX không có thẩm quyền thay đổi QĐHC (ở đây
là xác định lại mức tiền phạt) mà chỉ có thể kiến nghị CQNN có thẩm quyền xem
xét, sửa đổi.
Phán quyết của
HĐXX phúc thẩm là không phù hợp với qui định của PL. Do tòa sơ thẩm đã có sai
phạm về mặt áp dụng pháp luật nên áp dụng theo Khoản 3 Điều 241 Luật TTHC, tòa
phúc phải hủy bản án và gửi lại cho tòa sơ thẩm xét xử lại.
3. Căn
cứ kháng nghị: theo Điểm a (hoặc b) Khoản 1 Điều 255 Luật TTHC 2015.
Cơ quan có thẩm
quyền: hội đồng thẩm phán TAND Tối cao (theo Điểm a Khoản 2 Điều 22 Luật tổ chức
TAND 2014, Khoản 2 Điều 266 Luật TTHC)
Hướng giải quyết:
theo Khoản 2 Điều 274 Luật TTHC, thì TAND tối cao sẽ hủy bản án và gửi trả hồ
sơ vụ án cho tòa sơ thẩm/phúc thẩm xét xử lại.
Bài 7:
1.Đơn khởi kiện của công ty Sao Việt
sẽ được TAND quận Đống Đa, Hà Nội thụ lý do công ty đã có lợi ích bị xâm phạm
và có chứng cứ để đưa ra vụ kiện.
2.
Được chấp nhận căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 138 Luật TTHC 2015.
3. Căn cứ: khoản 1 Đ.210 LTTHC
2010; CQ có thẩm quyền giải quyết: Tòa hành chính TAND tối cao căn cứ theo khoản
2 Đ.219 LTTHC
Giải quyết: Khoản 3 Điều 277 Luật TTHC 2010 về
việc hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ
thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại vì có sự vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố
tụng. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 130 Luật TTHC 2010, nếu Kiểm Sát Viên không có mặt
thì phải hoãn phiên tòa.
Bài 8:
1.
Tòa sẽ thông báo, hỏi ý kiến và giải thích cho
ông Tuấn về việc có chấp nhận rút đơn kiện hay không khi quyết định mà ông kiện
đã không còn hiệu lực.
·
Nếu ông Tuấn rút đơn kiện: thì theo Điểm e Khoản
1 Điều 141 Luật TTHC 2015 tòa sẽ tuyên bố đình chỉ việc giải quyết vụ án.
·
Nếu ông Tuấn không rút đơn kiện: thì Tòa án sẽ vẫn
tiếp tục xét xử bình thường, sẽ có 2 hướng xử lí cho Tòa:
1) Nếu
ông Tuấn không có yêu cầu đòi bồi thường và trên thực tế không có thiệt hại do
quyết định hành chính gây ra thì Tòa sẽ tuyên bác yêu cầu khởi kiện (án lệ hành
chính khi đối tượng khởi kiện không còn, bản án 06/2012/HC-GĐT ngày 20/4/2012 của
Tòa hành chính TAND tối cao).
2) Tòa
sẽ xem xét tính hợp pháp của quyết định 2944/QĐ-UBND và cả quyết định hủy bỏ số
3789/QĐ-UBND của UBND thành phố Biên Hòa.
2.
Theo Điều
8 Luật TTHC 2015 quy định quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện,
thì trong quá trình giải quyết vụ án hành
chính, người khởi kiện có quyền rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của
mình theo quy định của Luật này.
·
Yêu cầu bổ sung của ông Tuấn trong phiên tòa sơ
thẩm sẽ không được HĐXX chấp nhận.
Vì theo Khoản 1 Điều 173 Luật
TTHC 2015, về việc xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của tòa sơ thẩm:
1. Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung
yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá
phạm vi yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.
Ông Tuấn đã yêu cầu
bổ sung thêm 2 quyết định hành chính bị khởi kiện, điều này được xem là đã vượt
quá về mặt yêu cầu vì khiến Tòa phải xem xét lại toàn bộ vụ án và nghiên cứu
thêm về 2 quyết định số 2944 và 3790.
·
Nếu việc bổ sung này được thực hiện trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thì yêu cầu bổ sung của ông sẽ được tòa chấp nhận.
Theo Điểm a Khoản 2 và Điểm b Khoản 4 Điều 138 thì
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và đối thoại, thì người khởi kiện có quyền bổ sung thêm yêu
cầu khởi kiện khi được thẩm phán hỏi và trong lúc đối thoại.
3.
Phán quyết trên của HĐXX phúc thẩm là không hợp
lí.
Vì theo Điều 241
Luật TTHC 2015 về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm, thì tòa án cấp phúc
thẩm không thể vừa giữ nguyên, vừa sửa đổi một phần (toàn bộ) bản án sơ thẩm.
Bài 9:
1.
Yêu cầu khởi kiện của Tổng giám đốc công ty CP
Bình Phương là không đúng với quy định của pháp luật.
Vì theo Điều 5
và 7 Luật TTHC 2015, người khởi kiện chỉ có thể yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình và được yêu cầu đòi bồi thường, chứ không thể kiến
nghị xử lí kỉ luật với người đã ban hành ra quyết định HC và xác định lại mức xử
phạt (Theo điểm b Khoản 2 Điều 193)
Yêu cầu hủy quyết
định xử phạt là đúng thẩm quyền xét xử của Tòa án (Khoản 2 Điều 193 Luật TTHC)
2.
Theo Khoản 2 Điều 32 Luật TTHC 2015, thẩm quyền
xét xử sẽ thuộc về TAND tại nơi công ty đặt trụ sở, là TAND tỉnh HB, do Cục Điều
tra chống buôn lậu trực thuộc Tổng Cục Hải quan, và cục này là cơ quan trực thuộc
cơ quan trung ương.
Theo Khoản 8 và 9
Điều 3 thì thành phần những người tham gia tố tụng trong vụ án trên là:
Người khởi kiện:
công ty CP Bình Phương, người đại diện theo PL là ông Hùng Phương-tổng giám đốc
công ty.
Người bị kiện: Cục
trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu (do là người có thẩm quyền ra quyết định xử
phạt)
4 cục cấp tỉnh: thi hành án, thống kê, hải
quan, thuế.
3.
Thủ tục
kháng nghị phúc thẩm và cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội. (theo Khoản 2 Điều 29 Luật tổ chức TAND 2014 và do còn thời hạn
kháng cáo, bản án sơ thẩm nên sẽ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm).
Theo Khoản 3
Điều 241 Luật TTHC, tòa phúc thẩm sẽ hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho tòa
sơ thẩm xét xử lại.
Bài 10:
1.
Tòa án xét xử sơ thẩm: TAND thành phố Hà Nội
(Khoản 3 Điều 32 Luật TTHC 2015).
Tòa án xét xử
phúc thẩm: TAND cấp cao tại Hà Nội (Khoản 1 Điều 29 Luật tổ chức TAND 2014).
Thành phần tham gia
tố tụng:
·
Người khởi kiện: Công ty Cp Hùng An, người đại
diện theo PL là Tổng giám đốc (Khoản 7 Điều 3 Luật TTHC 2015)
·
Người bị kiện: Cục trưởng cục thuế thành phố HN
(Khoản 8 Điều 3 Luật TTHC 2015).
2.
Hai tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều đã ra phán quyết
không đúng với PL, sai lầm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật.
Tòa sơ thẩm
không được phép ra quyết định xác định lại mức phạt được quy định trong quyết định,
Điều này không đúng với thẩm quyền của Tòa được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều
193 Luật TTHC.
3.
Thủ tục xét lại bản án sẽ theo thủ tục giám đốc
thẩm, do Chánh án TAND tối cao đã kháng nghị (theo Khoản 1 Điều 260 Luật TTHC
2015) và cơ quan có thẩm quyền giải quyết là TAND tối cao.
Hủy bản án sơ thẩm,
phúc thẩm, gửi hồ sơ yêu cầu tòa sơ thẩm xét xử lại (Theo Khoản 2 Điều 274 Luật
TTHC 2015).
Bài 11:
1.
Việc yêu cầu bổ sung của bà A sẽ không được HĐXX
chấp nhận vì các yêu cầu này đã vượt quá thẩm quá của Tòa. (theo Khoản 1 Điều
173 Luật TTHC 2015).
2.
Hội đồng xét xử sẽ quyết định đình chỉ việc xét
xử phúc thẩm vì người kháng cáo đã rút toàn bộ kháng cáo, dù đại diện DN X
không đồng ý. (theo Điểm c Khoản 1 Điều 229)
Bài 12:
a) Phán
quyết của HĐXX sơ thẩm là chưa phù hợp.
Trong trường hợp như thế này thì các tòa cần hướng dẫn
cho người khởi kiện thay đổi yêu cầu khởi kiện thành yêu cầu tuyên bố quyết định
bị kiện là trái pháp luật. Với yêu cầu như trên sẽ ngăn ngừa được tình trạng cơ
quan hành chính tiếp tục ban hành văn bản khác để đối phó nhưng lại có nội dung
tương tự văn bản đã bị khởi kiện...
b) Phán
quyết của HĐXX sơ thẩm chưa phù hợp, sai phạm về thẩm quyền xét xử. Vì theo Điểm
g, Khoản 2 Điều 193 Luật TTHC, hội đồng xét buộc cơ quan, tổ chức bồi thường
thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị
xâm phạm do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc
thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật gây ra;
Nhưng TAND huyện Đông Hòa lại quyết
định buộc chủ tịch UBND huyện khôi phục … Như vậy là có sai phạm về áp dụng
pháp luật.
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^