Thảo luận Luật Lao động - Chương VII: TIỀN LƯƠNG
Truy cập website mới để xem và tải nhiều tài liệu hơn nhé --> tuihocluat.com
THẢO LUẬN LUẬT LAO ĐỘNG
Ông Thành yêu cầu công ty thanh toán các khoàn tiền có thể được chia thành ba nhóm như sau:
THẢO LUẬN LUẬT LAO ĐỘNG
Giảng viên: Th.S
Đoàn Công Yên
Đóng góp bởi: Linh Hoàng
Chương VII: TIỀN LƯƠNG
I.
Tình huống số 1: tranh chấp giữa ông Trần Văn Thành
(nguyên đơn) và Công ty P. (bị đơn)
Ông Thành yêu cầu công ty thanh toán các khoàn tiền có thể được chia thành ba nhóm như sau:
a)
Tiền lương các tháng 11/2016, 2/2017, 4/2017 và 7/2017
Theo
Điều 96 BLLĐ 2012 qui định về nguyên tắc trả lương:” Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn”.
Nên
việc ông Thành yêu cầu công ty trả tiền lương và phụ cấp các tháng còn thiếu là
hợp lý và có cơ sở. Công ty có nghĩa vụ phải thanh toán đầy đủ tiền lương các
tháng còn thiếu cho ông ông Thành.
b)
Tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày 31/8/2017
TH1: Công ty do gặp phải trường hợp đặc
biệt hoặc lý do bất khả kháng dẫn đến không thể trả lương cho ông ông Thành
Theo
Khoản 2 Điều 24 Nghị định 05/2015 qui định về nguyên tắc trả lương cho người
lao động:
“2. Trường hợp đặc biệt do thiên tai, hỏa
hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện
pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp
đồng lao động thì không được trả chậm quá 01 tháng. Việc người sử dụng lao động
phải trả thêm cho người lao động do trả lương chậm được quy định như sau:
…
c)
Nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải
trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần
huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại
thời điểm trả lương. Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trần lãi suất
thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng
thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời
điểm trả lương”.
Công ty còn nợ 4 tháng tiền lương của ông
Thành nên yêu cầu của ông sẽ được chấp nhận.
TH2:
Công ty không gặp khó khăn nhưng cố ý không trả tiền lương đúng hạn cho ông Thành:
Trong vụ án có tình tiết tòa án đã thông báo cho người
đại diện theo PL của công ty (ông Cường) về yêu cầu khởi kiện của ông Thành, mời
tham gia hòa giải nhưng ông Cường lại vắng mặt không có lý do. Ông Cường tiếp tục
không xuất hiện tại phiên xét xử vụ án lần hai, đồng thời phía công ty cũng
không nêu ra các trường hợp đặc biệt hoặc các lý do bất khả kháng dẫn tới việc
công ty không thể trả lương cho ông Thành đúng thời hạn. Như vậy có thể xem là
việc không trả lương đủ cho ông Thành là việc làm mang tính cố ý của công ty.
Theo Khoản 3 và 7 Điều 13 Nghị định 88/2015/NĐ-CP:
“3. Phạt tiền
người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn; …
7. Biện pháp
khắc phục hậu quả:
a) Buộc trả đủ
tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho
người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các
ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi
phạm quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này;
Công ty đã nợ 4 tháng lương của ông Thành từ 11/2016 đến
31/8/2017 Như vậy ngoài số tiền lương còn thiếu thì công ty có trách nhiệm thanh
toán tiền lãi chậm thanh toán với mức lãi suất theo mức lãi suất tiền gửi không
kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm tháng
9/2017 là 1%/năm
c)
Trợ cấp thôi việc cho ông từ ngày 01/8/2014 đến
31/8/2017
Điều 48 BLLĐ 2012 qui định:
“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy
định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người
sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã
làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một
nửa tháng tiền lương”.
Giữa công ty và ông Thành đã chấm dứt hiệu lực hợp đồng
vào ngày 31/08/2017. Ông đã làm đủ từ 12 tháng trở lên theo hợp đồng có thời hạn
là 3 năm từ ngày 1/8/2014 đến 31/8/2017
Trường hợp chấm dứt HĐLĐ này thuộc quy định tại Khoản
1 Điều 36 BLLĐ 2012. Như vậy công ty có trách nhiệm phải trả cho ông Thắng tiền
trợ cấp thôi việc. Công ty không đóng BHXH, BHYT và BHTN cho ông Thành từ ngày
01/9/2014 đến 31/8/2017 nên sẽ không trừ số tiền đóng BHTN vào tiền lương để
tính trợ cấp thôi việc.
Mức
trợ cấp thôi việc
|
=
|
1/2
x
|
Tháng
lương bình quân
|
x
|
Số
năm làm việc
|
=
|
½
x
|
18.000.000
|
x
|
3
|
|
=
|
27.000.000
|
II.
Tình huống số 3:
A.
Lập luận bảo vệ ông An:
1.
Công ty đã tiến
hành nhắc nhở ông An 2 lần, lần đầu bởi TGĐ và lần sau bằng thư nhắc nhở. Ngoài
ra theo lời của ông An, ông còn nhận được biên bản cảnh cáo. Có thể xem đây là hình thức kỷ luật lao động khiển trách,
được quy định tại Khoản 1 Điều 125 BLLĐ 2012.
·
Như vậy nếu công
ty tiến hành xử lý kỷ luật lao động với ông An thì phải tuân thủ theo trình tự
thủ tục tại Khoản 1 Điều 123 BLLĐ 2012. Tại điểm a Khoản này qui định là NSDLĐ
phải chứng được lỗi của NLĐ.
·
Nhưng trong bản cảnh
cáo của công ty không ghi rõ ông An vi phạm điều nào trong nội quy lao động, đồng
thời việc lùi xe của ông An tuy không làm đúng trách nhiệm được giao nhưng
không gây thiệt hại, theo yêu cầu của khách hàng. Như vậy yếu tố lỗi của ông An
trong trường hợp này là không đủ làm cơ sở để kỷ luật ông.
Ø
Như vậy việc công
ty tiến hành kỷ luật lao động ông An bằng hình thức khiển trách rồi tiến hành cắt
tiền thưởng Quý 3 của ông là vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 123.
2.
Việc công ty tạo
ra quy chế thưởng theo quý mà chỉ dựa vào quyết định của TGĐ mà không được thỏa
thuận trong HĐLĐ, thỏa ước LĐ tập thể hoặc quy định trong quy chế của Cty là vi
phạm Điều 102 BLLĐ 2012. Tại Khoản 2 Điều 103 cũng quy định:
“2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao
động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến
của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.”
Ø
Không rõ là việc
ban hành quy chế thưởng này rồi tự đặt ra chính sách thưởng theo quyết định của
tổng giám đốc đã có tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể LĐ tại khách
sạn hay chưa?
Ø
Với việc đặt ra
quy chế thưởng này thì nên thảo khảo với tổ chức đại diện tập thể lao động tại
khách sạn và ghi vào trong thỏa ước lao động tập thể để NLĐ có thể nắm bắt rõ
các yêu cầu và nội dung của các khoản tiền thưởng,
3.
Việc giám đốc
công ty có thẩm quyền ra chính sách thưởng theo quý là có đúng thẩm quyền? Theo
Khoản 2 Điều 64 Luật DN 2014 không quy định về thẩm quyền ban hành, điều chỉnh,
… các mức lương, phụ cấp và thưởng của GĐ hoặc TGĐ công ty.
Ø Qua những lập luận trên, việc nguyên đơn yêu cầu bị
đơn trả số tiền thưởng quý 3/2017 là hoàn toàn có cơ sở và hợp lý. Công ty cần
phải xem xét lại việc ông An có lỗi hay không trong trường hợp này, rút lại quyết
định của mình và ghi các Khoản tiền thưởng hiện có của công ty dành cho nhân
viên vào quy chế lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể.
B.
Lập luận bảo vệ công ty:
1.
Điều 103 BLLĐ
2012 quy định
“1.
Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động
căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc
của người lao động.
2.
Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại
nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại
cơ sở.”
-
Ta có thể hiểu việc
thưởng cho người lao động hay không là quyền của người sử dụng lao động. Căn cứ
chung để xác định tiền thưởng cho người lao động là kết quả sản xuất kinh doanh
hàng năm của người sử dụng lao động và mức độ hoàn thành công việc của người
lao động.
2.
Do quy chế thưởng
theo quý của công ty không phụ thuộc vào văn bản quy định cụ thể nào mà dựa
trên sự xem xét và quyết định của TGĐ, cũng không được đề cập đến trong thỏa ước
lao động tập thể, không có thỏa thuận trong HĐLĐ giữa ông An và công ty nên có
thể xem việc thưởng này là một hình thức khuyến
khích của riêng công ty dành cho NLĐ. Pháp luật lao động cũng không bắt buộc
doanh nghiệp phải có chính sách thưởng theo quý hay các chính sách thưởng khác
tương tự.
3.
Việc công ty đề
ra Điều kiện nhận thưởng theo Điều 3 quyết định số DCI/GD2017-01-08 là phù hợp,
dựa trên nguyên tắc: tiền thưởng phải dựa trên những căn cứ nhất định do đó cần
phải có tiêu chuẩn thưởng.
4.
Khoản 2 Điều 64
Luật DN 2014 quy định:
2. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các
quyền và nhiệm vụ sau đây:
b) Quyết định các vấn đề liên quan đến
hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty;
…
l) Các quyền và nhiệm vụ khác được quy định
tại Điều lệ công ty, hợp đồng lao động mà Giám đốc hoặc Tổng giám đốc ký với
công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên.”
-
Việc tặng thưởng cho nhân viên có liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng ngày
của khách sạn nên TGĐ có thẩm quyền đưa ra chính sách thưởng của riêng công ty.
5. Việc Tổng giám đốc nhắc nhở và công ty
gửi thư nhắc nhắc ông An không phải là hình thức kỷ luật lao động mà là nhẳm để
nhắc nhở ông thực hiện đúng công việc
được giao như thỏa thuận trong HĐLĐ, đồng thời cũng là cơ sở để xem xét việc nhận
thưởng theo quyết định về chính sách thưởng của công ty.
- Ông An dù đã bị TGĐ ngăn cản nhưng tiếp
tục thực hiện hành vi không đúng thẩm quyền của mình, cũng đã thừa nhận mình vi
phạm nội quy lao động và về phía công ty mới chỉ nhắc nhở chứ về phía công ty chưa
đưa ra quyết định kỷ luật nào.
-
Vậy việc công ty
không trả tiền thưởng quý 3/2017 với số tiền lá 1.320.000 là hợp lý và có cơ sở.
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^