Thảo luận Luật Lao động - Chương IV: Hợp đồng lao động
Truy cập website mới để xem và tải nhiều tài liệu hơn nhé --> tuihocluat.com
THẢO LUẬN LUẬT LAO ĐỘNG
Giảng viên: Th.S Đoàn Công yên
Đóng góp bởi: Linh Hoàng
Chương IV: Hợp đồng lao động
1.
Tình huống số 1:
A.
Lập luận bảo vệ bà A:
HĐLĐ
hết hạn vào ngày 31/05/2017, nhưng bà A vẫn tiếp tục làm việc theo yêu cầu của
Giám đốc công ty đến hết ngày 15/06/2017 rồi nghỉ thai sản. Trong khi đó công
ty ra quyết định chấm dứt HĐLĐ vào ngày 20/8/2017, 19 ngày 2 tháng kể từ khi HĐ
cũ hết hạn.
o Theo
Khoản 2 Điều 22 BLLĐ 2012 quy định: “Khi
hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này hết hạn mà người
lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng
lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo
quy định tại điểm b khoản 1 điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định
thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 điều này
trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.”
Như vậy, sau
khi HĐLĐ giữa bà A và công ty Alpha hết hạn nhưng bà A vẫn được công ty yêu cầu
tiếp tục làm việc, cả 2 bên cũng không ký kết hợp đồng mới. Bà A tiếp tục làm
việc đến ngày 15/6/2017 thì nghỉ sinh đến ngày 15/01/2018.
o
Điểm a Khoản 1 Điều 31
Luật BHXH 2014 quy định lao động nữ mang thai được hưởng chế độ thai sản.
Theo
Khoản 4 Điều này quy định:
“4. Người lao động đủ
điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động,
hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới
06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34,
36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.”
Theo
Khoản 1 Điều 34 luật BHXH 2014:
“Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh
đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm
01 tháng.
Thời gian nghỉ hưởng
chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.”
o Điều
6 Nghị định 45/2013/NĐ-CP quy định về thời gian được coi là thời gian làm việc
của người lao động để tính số ngày nghỉ hằng năm:
“...
7. Thời gian nghỉ hưởng
chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội."
Ø Việc
bà nghỉ sinh 6 tháng từ ngày 15/6/2017 đến 15/01/2018 nên được tính được tính
là thời gian được coi là thời gian làm việc theo pháp luật lao động và BHXH.
Ø Việc
GĐ Cty Alpha ra quyết định chấm dứt HĐLĐ đối với bà A với lý do HĐLĐ hết hạn là
sai. Hành vi của công ty Alpha phải được xem là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái
pháp luật theo Đều 37 BLLĐ 2012 và phải thực hiện các nghĩa vụ được quy định tại
Điều 42 bộ luật này.
B.
Lập luận bảo vệ công ty
Alpha:
1. Căn cứ vào Điều 47 của BLLĐ
2012, về phía công ty Alpha đã thực hiện chức năng thông báo về thời hạn chấm dứt
HĐLĐ thông qua văn bản vào ngày 14/5/2017.
Công ty sẽ chịu trách nhiệm về việc xử lý hành chính về việc
không thông báo đúng thời hạn.
2. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 3
thì NLĐ chịu sự quản lý và điều hành của NSDLĐ. Do đó Ngày 21/5/2017, Giám đốc
công ty đã có yêu cầu bà A bàn giao hồ sơ, tài liệu công việc, … để chấm dứt
HĐLĐ thể hiện sự điều hành và quản lý bà A thực hiện công việc mà công ty giao.
Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 47 BLLĐ 2012, không có quy định về
nghĩa vụ của NSDLĐ khi chấm dứt HĐLĐ với NLĐ là ban hành quyết định chấm dứt HĐ
khi hợp đồng chấm dứt do hết hạn (theo Khoản 1 Điều 36 BLLĐ 2012).
Về
phía công ty không muốn xảy ra sự việc tranh chấp về HĐLĐ về sau và muốn bảo đảm
quyền lợi cho bà A về việc hưởng chế độ bảo hiểm (bao gồm bảo hiểm thất nghiệp)
và các khoản trợ cấp thôi việc cho nên Giám đốc (Người đại diện theo PL của
công ty) đã yêu cầu bà A giao toàn bộ hồ sơ, tài liệu công việc,… cho người có
thẩm quyền để làm thủ tục chấm dứt hợp đồng vào ngày 21/05/2017 là có căn cứ.
=>
Từ lập luận này thì đã thể hiện ý chí của công tykhông muốn tiếp tục kí kết hợp
đồng với bà A.
3. Hợp đồng lao động theo nghĩa
rộng là một loại hình giao dịch dân sự được pháp luật DS điều chỉnh. Về nghĩa hẹp,
do HĐLĐ là một loại hợp đồng mang tính chuyên biệt và được BLLĐ 2012 điều chỉnh
khá đầy đủ, tuy nhiên cũng chỉ quy định về hình thức HĐLĐ và nguyên tắc, nghĩa
vụ trước khi giao kết HĐLĐ.
Căn
cứ vào Điều 30 BLLĐ 2012 “Công việc theo hợp đồng phải do NLĐ đã giao kết thực
hiện.” Ở đây căn cứ vào HĐLĐ ở Điều khoản về Công việc có quy định “Thực hiện
các công việc khác theo yêu cầu của Công ty”.
=> Ngày 21/05/2017 (HĐLĐ vẫn còn hiệu lực)
cho nên Giám đốc công ty Alpha đã yêu cầu bà A thực hiện công viêc bàn giao giấy
tờ à Làm phát sinh nghĩa vụ của bà A trong hợp đồng nêu
trên.
4. Về vấn đề nghĩa vụ trong khi
thực hợp đồng thì lại quy định trong BLDS 2015. Căn cứ vào Điều 274 BLDS 2015 thì
Nghĩa vụ là việc mà theo đó bên có nghĩa phải thực hiện công việc nhất định vì
lợi ích của bên có quyền. Lợi ích của bên có quyền trong vụ việc này là công việc
mà bà A phài thực hiện theo hợp đồng với công ty Alpha.
Nhưng,
ngày 31/05/2017, bà A vẫn chưa thực hiện xong nghĩa vụ và đây cũng là ngày cuối
cùng của thời hạn trong hợp đồng. Do vậy sau ngày 31/05/2017 Công ty có yêu cầu
bà A tiếp tục thực hiện công việc trên (nghĩa vụ) dựa trên căn cứ Điều 358 BLDS
và Điều 30 BLLĐ do công việc này không được chuyển giao do vậy về phía công ty
phải thực hiện theo hướng duy trì nghĩa vụ của bà A do vậy mới yêu cầu bà A tiếp
tục thực hiện xong công việc theo HĐLĐ. Và nghĩa vụ này sẽ chấm dứt khi các bên
có thỏa thuận hoặc thực hiện xong nghĩa vụ. Căn cứ theo Điều 372 BLDS 2015 thì
việc chấm dứt HĐLĐ không làm chấm dứt nghĩa vụ.
Ø Như vậy bà A có nghĩa vụ phải
hoàn thành toàn bộ công việc được gia vì đã có thoả thuận trong HĐLĐ, dù hợp đồng
đã hết hạn. Việc công ty yêu cầu bà A hoàn thành xong công việc không nên được
xem là trường hợp “NLĐ tiếp tục thực hiện công việc” theo Khoản 2 Điều 22 BLLĐ
2012.
Ø Việc công ty chấm dứt hợp đồng
với bà trong thời gian bà đang nghỉ sinh là hợp pháp theo những lập luận đã
trình bày.
2.
Tình huống số 2:
A.
Lập luận bảo vệ cho bên
nguyên đơn (ông Ngô Thắng):
·
Ý kiến của của Phúc:
Hiện nay chưa có quy định của
BLLĐ 2012, các văn bản dưới luật dành cho phương án sử dụng lao động cho NLĐ
công ty TNHH liên doanh, do vậy về phía nguyên đơn xin được trình bày về việc
áp dụng tương tự pháp luật Khoản 8,9,10 Điều 3 Thông tư 44/2015/TT-BLĐTBXH về
trình tự xây dựng phương án sử dụng lao động, cần phải phối hợp với tổ chức đại
diện lao động tậo thể tại cơ sở, được gửi đến cơ quan có thẩm quyền xem xét và
phê duyệt.
Do phương án lao động này
chưa được thông qua, chưa đăng ký với cơ quan chức năng có thẩm quyền nên quyết
định tái cấu trúc, tái phân bổ lại nguồn lực lao động này là sai. Do quyết định
số 25 và số 27 là ban hành ra là Điều chuyển NLĐ trái quy định PL. Trên danh
nghĩa thì ông Thắng sẽ vẫn giữ chức danh Giám
đốc bán hàng khu vực miền Bắc. Sau khi có quyết định phê duyệt thì công ty
ông Thắng đến công ty nhưng không được giao bất kỳ công việc nào phù hợp với
chuyên môn cần phải được xem xét và giải quyết từ phía công ty.
Xét về mặt nội dung, Quyết định
bổ nhiệm các chức danh của 1 NLĐ cụ thể trong rất nhiều trường hợp làm phát
sinh vi phạm mới về nội dung công việc của NLĐ tại doanh nghiệp, cũng như thay
đổi tất cả về lương, phụ cấp … của NLĐ. Theo tinh thần của BLLĐ VN, quan hệ lao
động không được xác lập bởi các quyết định bổ nhiệm mà chế định này được Điều
chỉnh bởi luật LDN. Hơn nữa với quy tại LDN thì chủ thể có thẩm quyền bổ nhiệm
các chức danh trong DN thì có quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh đó. Như
vậy rõ ràng đây là ý chí đơn phương từ NSDLĐ, nld liệu có đòi được đòi hỏi quyền
lợi gì hay không nếu quyết định bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh cụ thể này
thực sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, không ít
trường hợp, quyết định bãi nhiệm, miễn nhiệm trong các trường hợp này được DN
áp dụng như một hình thức chấm dứt HĐLĐ với NLĐ.
Như vậy yêu cầu của ông Thắng
yêu cầu công ty phải sắp xếp lại cho ông chức danh Giám đốc bán hàng khu vực miền
Bắc là có cơ sở, nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình theo Điều
30 BLLĐ 2012.
·
Ý kiến của Linh:
Theo điểm a Khoản 1 Đều 37,
nếu không được bố trí đúng công việc thì NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ
=> như vậy công ty có nghĩa vụ phải bổ nhiệm ông Thắng đúng vị trí, việc làm
theo HĐLĐ.
a. Thỏa thuận thay đổi nội dung HĐLĐ
Theo quy định của pháp luật
lao động, khi có ý định bổ nhiệm chức vụ Giám đốc huấn luyện và kiểm soát cho
ông Thắng, Công ty T phải hỏi ý kiến ông Thắng. Xét trường hợp, Ông Thắng đang
giữ chức vụ Giám đốc bán hàng khu vực miền bắc ở bộ phận bán hàng thì được công
ty bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc huấn luyện và kiểm soát và làm việc ở một bộ
phận khác. Ở đây, tình huống không nói rõ là ông Thắng được bổ nhiệm công tác mới
hay tạm thời chuyển sang làm công việc mới. Ta đặt ra hai trường hợp:
·
Một là, nếu công ty tạm thời chuyển ông Thắng sang làm công
việc khác so với hợp đồng thì phải báo cho ông Thắng biết trước 03 ngày, đồng
thời thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe
và giới tính của ông theo quy định tại Khoản 2 Điều 31 Bộ luật lao động (BLLĐ).
·
Trường hợp thứ hai là nếu công ty bổ nhiệm ông Thắng vào chức
danh và công tác ở một lĩnh vực mới, trong tình huống này thì hai bên phải ký lại
HĐLĐ, thỏa thuận lại nội dung hợp đồng phù hợp với nội dung, tính chất công việc
mới, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên theo quy định tại khoản 3 Điều
31 BLLĐ. Ta thấy rằng, dù trong trường hợp điều chuyển công tác như thế nào thì
pháp luật lao động vẫn có quy định người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải thông
báo cho người lao động (NLĐ) biết để hai bên có sự thỏa thuận phù hợp.
b. Giải quyết tranh chấp
Xét vi phạm của Công ty T:
Công ty T ký kết hợp đồng
lao động với ông Thắng vào ngày 27/12/2015. Tuy nhiên, sau hơn một năm làm việc
theo HĐLĐ, công ty T đã bất ngờ có sự điều chuyển ông sang làm công việc mới đó
là giữ chức danh giám đốc huấn luyện và đào tạo từ ngày 20/02/2017 đến ngày
03/05/2017 mà không có sự thỏa thuận lại với ông Thắng. Như vậy, xét hành vi của
công ty T là trái với quy định của pháp luật lao động. Bởi do:
Thứ nhất, nếu công ty T tạm
thời chuyển ông Thắng sang làm công việc khác thì phải thông báo cho ông trước
ba ngày. Tuy nhiên, công ty T đã không thông báo cho ông Thắng biết và đột ngột
có sự bổ nhiệm là vi phạm quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 31 BLLĐ.
Thứ hai, thời hạn điều chuyển
tạm thời không được quá 60 ngày cộng dồn trong một năm, ông Thắng giữ chức vụ
giám đốc đào tạo và huấn luyện từ ngày 20/02/2017 đến 03/05/2017 là gần ba
tháng tức là đã vượt quá thời hạn luật quy định.
Như vậy, đối với yêu cầu của
ông Thắng về việc công ty T phải sắp xếp cho ông đúng với chức danh giám đốc bán
hàng khu vực miền Bắc là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
c. Hướng giải quyết tranh chấp:
Trong vụ việc tranh chấp
này, công ty T có vi phạm trong thực hiện thủ tục chuyển tạm thời người lao động
sang làm công việc mới, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thắng.
Hướng xử lý buộc công ty T phải sắp xếp lại công việc trên cơ sở thỏa thuận với
ông Thắng, ký kết HĐLĐ với chế độ và điều kiện làm việc phù hợp với nội dung
công việc mới (vấn đề này Công ty T đã thực hiện). Việc ông Thắng không chấp nhận
sự bố trí của công ty T và hai bên không đi đến sự thống nhất thì hai bên có thể
chấm dứt HĐLĐ theo pháp luật, công ty T có nghĩa vụ trả lương đầy đủ và giải
quyết chế độ nghỉ việc cho ông Thắng theo quy chế công ty và quy định của pháp
luật theo quy định tại Điều 44 BLLĐ.
B.
Lập luận bảo vệ cho bên bị
đơn (Công ty TNHH Liên doanh T):
Yêu cầu của ông Thắng phải sắp xếp cho ông đúng với chức danh
Giám đốc bán hàng khu vực miền Bắc là không được chấp nhận, vì các lý do sau:
3 vị trí mà công ty T đã bổ
nhiệm ông Thắng là:
i.
Giám đốc bán hàng khu vực phía Bắc
ii.
Giám đốc huấn luyện và kiểm soát toàn quốc
iii.
Quản lý vùng - khối bán hàng GT khu vực Mekong
·
Có thể thấy công ty T chuyển ông Thắng từ công việc thứ 1
sang thứ 2 thuộc quy định tại Điều 35 BLLĐ 2012 (không phải Điều 31 do không
nêu lý do và thời gian) và chuyển vị trí công tác này được 2 bên thoả thuận nên
phù hợp với qui định của PL.
·
Từ công việc thứ 2 sang thứ 3 được quy định bởi Điều 44 BLLĐ
2012, trường hợp này không yêu cầu phải có thoả thuận giữa 2 bên.
Thứ nhất, ngày 3/5/2015,
Công ty T ra quyết định tái cấu trúc nhằm giải thể bộ phận hành chính bán hàng
và bộ phận đào tạo và bộ phận huấn luyện kinh doanh, đồng thời công ty có quyết
định cử 05 nhân viên, trong đó có ông Thắng, đi đào tao để tiếp tục sử dụng những
cán bộ nhân viên này vào vị trí công tác mới.
Vậy nên ta có thể hiểu trường
hợp này thuộc quy định tại Điều 44 BLLĐ 2012 về nghĩa vụ của NSDLĐ trong TH
thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế. Theo đó thì NSDLĐ ở đây là công
ty T có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định
tại Điều 46 của BLLĐ 2012.
·
Căn cứ vào quyết định số 24 ban hành ngày 3/5/2017 của công
ty T về việc tái cấu trúc công ty, quyết định số 25 và 27 ngày 4/5/2017 cử ông
Thắng cùng 4 cán bộ nhân viên đào tạo, qua đó, chứng tỏ đây là trường hợp tái cấu
trúc theo quy định tại Điều 44.1 BLLĐ 2012. Quyết định cửa 5 ông đi đào tạo dựa
trên phương án sử dụng lao động có sự tham gia của tổ chức đại diện cho NLĐ,
đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 46 BLLĐ 2012 về phương án sử dụng lao động.
Nhưng do ông Thắng không thực hiện quyết định Điều động đi
đào tạo, lại đến công ty và phàn nàn không được giao việc không thuộc về chuyên
môn và trách nhiệm của ông Thắng nữa. Không phải công ty T ép ông Thắng phải
làm công việc không đúng chuyên môn mà là do Công ty có sự thay đổi cơ cấu tổ
chức, tổ chức lại lao động (theo Điểm a, Khoản 1 Điều 13 NĐ 05/2015) và công ty
T đã cử ông Thắng đi đào tạo với mục đích tiếp tục sử dụng lao động. Nhưng ông
Thắng không làm theo, coi như ông đã tự mình từ bỏ các quyền và lợi ích hợp
pháp của mình.
Ø Do đó ông Thắng không có quyền
buộc công ty T phải sắp xếp cho ông chức danh Giám đốc bán hàng khu vực Miền Bắc.
Thứ hai, vì công ty đã có
quyết định sát nhập, giải thể và sắp xếp lại nhân sự cho phù hợp ở hai bộ phận
hành chính bán hàng và bộ phận đào tạo huấn luyện kinh doanh (theo quyết định số
03/QD-TDCT) có thể là chức danh Giám đốc
bán hàng khu vực Miền Bắc đã thay đổi hoặc không còn trên thực tế nữa.
Phương hướng giải quyết cho
công ty:
·
Nếu công ty T quyết định đơn phương chấm dứt HĐLĐ với ông Thắng
thỉ phải cho ông trợ cấp thôi việc.
·
Nếu không bố trí được việc làm thì phải cho ông trợ cấp mất
việc.
1.
Tình
huống số 3:
a)
Tại
thời điểm các bên tranh chấp, bà N đang làm việc theo loại hợp đồng nào? Vì
sao?
Thời
điểm các bên tranh chấp xác định trong bài là ngày 11/4/2017. Theo nhóm, tại thời
điểm tranh chấp nói trên, bà N làm việc theo loại hợp đồng không xác định thời
hạn.
Căn
cứ theo lời khai của bên nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N., bà N có ký hợp đồng
lao động với Công ty TNHH S. (công ty) vào ngày 12/03/2014, thời hạn là 01 năm.
Hết hạn hợp đồng nói trên, bà N tiếp tục làm việc cho công ty theo HĐLĐ thứ 2,
có thời hạn từ ngày 12/03/2014 đến ngày 11/03/2017. Căn cứ theo điểm b khoản 1
Điều 22 BLLĐ 2012, hai HĐLĐ nói trên đều thuộc loại HĐLĐ xác định thời hạn. Sau
khi hết hạn HĐLĐ thứ hai thì bà N khai rằng bà vẫn tiếp tục làm việc cho đến
ngày 11/4/2017.
Theo
quy định tại Khoản 2 Điều 22 BLLĐ 2012:
“ … ;nếu không ký kết
hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1
Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn…”
Vì
dù hợp đồng thứ 2 của bà N với công ty đã hết hạn vào ngày 11/3/2017 nhưng bà vẫn
tiếp tục làm việc đến ngày 11/4/2017 thì công ty mới cho bà thôi việc, đã 30
ngày nên HĐLĐ giữa bà N và công ty sẽ chuyển thành HĐLĐ không xác định thời hạn.
b)
Theo
anh/chị, bà N. có thể kiện Công ty đã vi phạm pháp luật lao động hay không? Vì
sao?
Đầu
tiên, lý do Công ty chuyển bà N. sang làm việc tại bộ phận kinh doanh được đưa
ra là “do hoạt động kinh doanh đang khó khăn”.
Căn
cứ theo khoản 2, Điều 31 BLLĐ 2012:
“Khi tạm thời chuyển
người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động
phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ
thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của
người lao động.”
Công
ty khi chuyển Bà N. không thông báo rõ thời hạn làm việc tạm thời nên bà N. có
thể khởi kiện Công ty vi phạm pháp luật lao động.
Căn
cứ theo Khoản 2 Điều 8 Nghị định 05/2015:
“2.
Người sử dụng lao động quy định cụ thể trong nội quy của doanh nghiệp trường hợp
do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người
lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động”.
Đối
với trường hợp lý do “do nhu cầu sản xuất, kinh doanh” không được quy định rõ
trong Nội quy lao động thì Công ty không có bất cứ lý do gì để chuyển bà N sang
làm việc tại bộ phận kinh doanh, do đó bà N. có thể khởi kiện Công ty vi phạm
pháp luật lao động do chuyển người lao động làm công việc khác so với HĐLĐ mà
không có lý do, căn cứ theo Luật định.
Như
vậy, lý do mà Công ty đưa ra nói trên không thuộc vào trường hợp thay đổi việc
làm người lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế tại Điều
44 BLLĐ.
Vậy
nên bà N có thể kiện công ty vì đã vi phạm pháp luật lao động.
c)
Quyền
và nghĩa vụ của các bên sẽ được giải quyết như thế nào? NSDLĐ và NLĐ có thể thỏa
thuận việc trả tiền thay cho việc báo trước không? Vì sao?
Việc
Giám đốc Công ty ra quyết định chấm dứt HĐLĐ với bà N từ ngày 08/7/2017 là đơn
phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Bởi vì căn cứ mà công ty đưa ra “theo
ý nguyện của người lao động” không thuộc các trường hợp được quy định tại Khoản
1 Điều 38 BLLĐ 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt HĐ của NSDLĐ. Như vậy,
căn cứ theo Điều 41 BLLĐ 2012, công ty đơn phương chấm dứt HĐ trái PL, từ đó phải
chịu các nghĩa vụ phát sinh theo BLLĐ.
Nghĩa
vụ của công ty được quy định tại Điều 42 BLLĐ 2012: Nghĩa vụ của người sử dụng
lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Việc
NSDLĐ và NLĐ thỏa thuận việc trả tiền thay cho việc báo trước là không đúng với
quy định của PLLĐ Bởi BLLĐ 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy
định về việc hai bên thỏa thuận trả tiền thay cho việc báo trước, đồng thời
liên quan đến vấn đề nói trên, PLLĐ chỉ quy định về nghĩa vụ bồi thường do vi
phạm quy định về thời hạn báo trước (khoản 5 Điều 42 BLLĐ).
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^