Dân sự - Hợp đồng - Buổi thảo luận thứ 1
Vấn đề 1: Thực hiện công việc không
có ủy quyền
Câu
1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
Căn cứ theo Điều 574
BLDS 2015 thì: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không
có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn
toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết
hoặc biết mà không phản đối.”
Câu
2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ làm phát sinh Nghĩa vụ
Dân sự?
Căn cứ làm phát sinh
quan hệ nghĩa vụ dân sự là những sự kiện xảy ra trong thực tế, được pháp luật
dân sự dự liệu, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ
dân sự.
Do đó, thực hiện công
việc không có ủy quyền là căn cứ làm phát sinh Nghĩa vụ dân sự là vì trong thực
tế có các trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền, mà BLDS 2015 đã dự
liệu điều này tại Chương XIX: Thực hiện công việc không có ủy quyền và tại Khoản
8 Điều 8 Căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự là Thực hiện không có ủy
quyền, Khoản 3 Điều 275: Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là thực hiện
không có ủy quyền.
Việc quy định chế định
này tạo nên sự ràng buộc pháp lý giữa người thực hiện công việc và người có
công việc được thực hiện và nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi của
người thực hiện công việc cũng như đối với người có công việc được thực hiện.
Câu
3: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”
theo quy định của BLDS?
Căn cứ theo Điều 594
BLDS 2005, ta có thể phân tích các điều kiện để áp dụng chế định “Thực hiện
công việc không có ủy quyền” như sau:
1.
Việc thực hiện công việc hoàn toàn không
do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định đối với người thực hiện công
việc.
2.
Người thực hiện công việc phải thực hiện
công việc hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện.
3.
Người có công việc được thực hiện không
biết hoặc biết mà không phản đối việc thực hiện công việc không có ủy quyền.
4.
Nếu công việc đó không thực hiện ngay
thì sẽ gây thiệt hại cho người có công việc cần được thực hiện.
5.
Câu
4: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công
việc không có uỷ quyền”.
-Lược bỏ từ “hoàn toàn”
trước cụm từ “vì lợi ích của người có công việc…”. Mục đích cho phép người thực
hiện công việc không có uỷ quyền có một phần nhỏ lợi ích trong thực hiện công
việc.
Câu
5: Trong tình huống trên, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những
nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy
quyền” không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Điều 574 BLDS 2015 định
nghĩa : thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa
vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của
người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không
phản đối.
- Như vậy: để thực hiện
công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự với quy định
trên thì phải có một người “thực hiện công việc” của người khác và “khi người
này không biết hoặc biết mà không phản đối”. Trong tình huống nêu trên, ban quản
lý dự án B mới chỉ ký hợp đồng với nhà thầu C, không nêu rõ C đã tiến hành xây
dựng chưa.
·
Trường hợp C chưa làm gì thì không thể
yêu cầu A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định thực hiện
công việc không có ủy quyền.
·
Trường hợp C đang xây dựng mà A biết và
phản đối mà C vẫn làm thì C cũng không thể yêu cầu A thực hiện những nghĩa vụ
trên cơ sở các quy định của chế định thực hiện công việc không có ủy quyền được.
·
Trường hợp C đã xây dựng xong mà A không
biết hoặc biết mà không phản đối thì lúc này điều kiện có một chủ thể thực hiện
công việc của người khác và người này không biết hoặc biết mà không phản đối đã
được thỏa mãn. Chúng ta xét đến những điều kiện khác.
Với quy định tại Điều
574, người thực hiện công việc là “người không có nghĩa vụ thực hiện công việc”
đó. Trong tình huống đã nêu, nhà thầu C thực hiện công việc là do đã ký hợp đồng
với ban quản lý dự án B. Đối chiếu với người có công việc được thực hiện (chủ đầu
tư A), nhà thầu C không có nghĩa vụ nào (giữa họ không có hợp đồng và không có
quy định nào buộc C làm việc cho A) nhưng thực chất công việc mà C tiến hành là
theo thỏa thuận với chủ thể khác (ban quản lý dự án B). Theo thực tiễn xét xử,
điều kiện “không có nghĩa vụ thực hiện công việc’’ dường như chỉ được xem xét
trong quan hệ giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện;
nếu công việc này được thực hiện theo yêu cầu của người thứ ba hay theo thỏa
thuận với người thứ ba thì vẫn có thể vận dụng chế định thực hiện công việc
không có ủy quyền. (Quyết định số 23/2003/HĐTP-DS ngày 29-7-2003 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Như vậy điều kiện người không có nghĩa vụ
thực hiện công việc đó đã thỏa mãn.
Theo định nghĩa tại Điều
574 thì chúng ta chỉ áp dụng chế định thực hiện công việc không có ủy quyền khi
người thực hiện công việc tiến hành công việc này hoàn toàn vì lợi ích của người
có công việc được thực hiện, tuy nhiên cũng không loại trừ khả năng người tiến
hành công viêc cũng có lợi ích từ việc thực hiện vì nhà thầu C làm việc để thu
lợi nhuận. (Trường hợp tương tự trong Quyết định số 23/2003/HĐTP-DS ngày
29-7-2003). Như vậy điều kiện này cũng được đảm bảo.
Như vậy, khi nhà thầu C
đã hoàn thành công việc thì có thể yêu cầu Chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ
trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”.
Vấn đề 2: Chiếm hữu tài sản không
có căn cứ pháp luật.
Câu
1: Vì sao Toà giám đốc thẩm xác định cặp trâu mẹ con là của ông Hơn? Anh chị có
suy nghĩ gì về hướng giải quyết này của Toà giám đốc thẩm?
Toà giám đốc thẩm xác định
cặp trâu mẹ con là của ông Hơn vì trong quá trình giải quyết, ông Đồng Văn Hơn
chứng minh được cặp trâu mẹ con thuộc quyền sở hữu của mình bằng việc nêu rõ được
đặc điểm của hai con trâu cũng như nguồn gốc của chúng và khi đối chiếu với các
chứng cứ khác và kết quả giám định là có căn cứ. Ngược lại ông Phong lại không
có thiện chí giải quyết như: không chịu thả trâu theo tập quán, tự ý tổ chức vợ
con đến dắt trâu và nghé đang tranh chấp về nhà, các lời khai mâu thuẫn như anh
khai con trâu mẹ của anh khoảng 8 tuổi trong khi con trâu này được xác nhận là
được khoảng 11 năm tuổi, đồng thời ông khai con trâu mẹ và con trâu nghé đực
không phải là mẹ con mà là trâu ghép mẹ trong khi xác định được các đặc điểm nhận
dạng của chúng lại có rất nhiều điểm giống nhau như được di truyền từ mẹ sang
con. Bởi vậy lời khai của ông Phong là rất mâu thuẫn và không đáng tin cậy.
Từ những yếu tố trên,
Toà giám đốc thẩm đã xác định cặp trâu mẹ con là của ông Hơn.
Tôi đồng ý với hướng giải
quyết trên của toà án.
Câu
2: Thế nào là chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật? Ai trong vụ án trên
là người chiếm hữu trâu và nghé của ông Hơn không có căn cứ pháp luật và vì
sao?
Việc chiếm hữu tài sản
không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 165 BLDS 2015 là chiếm hữu không có
căn cứ pháp luật.
Như vậy chiếm hữu tài sản
không có căn cứ pháp luật là chiếm hữu tài sản không thuộc các trường hợp sau
đây:
·
Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản.
·
Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý
tài sản.
·
Người được chuyển giao quyền chiếm hữu
thông qua giao dịch dân sự phù hợp với các quy định của pháp luật.
·
Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ,
tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên,
bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định.
·
Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm,
vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định.
Trong vụ án trên ông
Phong là người chiếm hữu trâu và nghé của ông Hơn không có căn cứ pháp luật. Vì
theo như Toà án đã xác định thì con trâu và con nghé là của ông Hơn, trong khi
đó ông Phong lại chiếm hữu chúng khi không có sự đồng ý, cho phép, uỷ quyền chiếm
hữu từ ông Hơn. Bởi vậy việc ông Phong tự ý lấy mất con trâu và nghé của ông
Hơn là hành vi trái pháp luật, là hành động chiếm hữu tài sản không có căn cứ
pháp luật.
Câu
3: Đoạn nào của Quyết định cho thấy Toà giám đốc thẩm buộc ông Phong trả cho
ông Hơn trâu và nghé có tranh chấp? Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết
này của Toà giám đốc thẩm?
Đoạn cho thấy Toà giám
đốc thẩm buộc ông Phong trả cho ông Hơn trâu và nghé là:
“…Hội đòng xét xử giám
đốc thẩm Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao nhất trí với nội dung kháng nghị: …Toà
án cấp cấp phúc thẩm đã xử công nhận con trâu cái và con nghé đực đang tranh chấp
hiện ông Phong đang quản lý là trâu của ông Hơn đồng thời buộc ông Phong phải
trả cho ông Phạm Đình Trọng 3.240.000đ tiền công coi và chăm sóc trâu là có căn
cứ. Song Toà án cấp phúc thẩm không tuyên buộc ông Phong phải trả lại 2 con
trâu nêu trên là sai sót nghiêm trọng dẫn đến bản án không thi hành được…nếu
ông Nguyễn Văn Phong không tìm thấy 2 con trâu nêu trên thì ông Phong phải có
trách nhiệm thanh toán giá trị hai con trâu đó cho ông Đồng Xuân Hơn theo giá
thị trường”.
Toà giám đốc thẩm đưa
ra hướng giải quyết như vậy là hợp lý theo quy định tại Điều 579 BLDS 2015. Vì
Toà đã xác định 2 con trâu là của ông Hơn, ông Phong chiếm hữu không có căn cứ
pháp luật, không ngay tình nên việc buộc ông Phong là người đang quản lý trâu
trả lại trâu cho Hơn là hợp tình hợp lý. Và khi ông Phong không tìm lại được 2
con trâu đã thả vào rừng thì phải đền bù bằng tiền mặt lại giá trị của 2 con
trâu cho ông Hơn.
Câu
4: Có quy định nào buộc ông Phong trả cho ông Trọng tiền công trông coi trâu có
tranh chấp không? Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết vừa nêu của Tòa
phúc thẩm và Tòa giám đốc thẩm?
BLDS 2015 không có quy
định nào trực tiếp buộc ông Phong trả cho ông Trọng tiền công trông coi trâu có
tranh chấp, trong bản án đoạn nhận thấy có nêu: “cả hai bên thỏa thuận đề nghị
Công an xã giao cả hai con trâu cho ông Trọng công an xã chăn dắt giá
60.000đ/ngày/2 con chờ Tòa án giải quyết. Ai thắng kiện được lấy trâu và không
phải chịu chi phí chăn dắt trâu”, như vậy đây là Hợp đồng gửi giữ tài sản –
theo Điều 554 BLDS: “Hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên,
theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản
đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng, bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ,
trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công.”. Vì ông Phong thua kiện nên
phải trả tiền công trông coi trâu có tranh chấp cho ông Trọng theo thỏa thuận
trước đó, theo quy định về nghĩa vụ của bên gửi giữ tài sản tại Khoản 2 Điều
555: “Phải trả đủ tiền công, đúng thời hạn và đúng phương thức đã thoả thuận.”
Câu
5: Nếu ông Phong cho người khác thuê trâu có tranh chấp từ tháng 02/2008 thì
khoản tiền thuê mà ông Phong nhận được từ việc cho thuê được giải quyết như thế
nào? Ai sẽ được hưởng khoản tiền này? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nếu ông Phong cho người
khác thuê trâu có tranh chấp từ tháng 02/2008 thì khoản tiền mà ông Phong nhận
được thì phải hoàn trả khoản tiền ấy và ông Hơn là người được hưởng khoản tiền
này vì đây là trường hợp được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật không
ngay tình.
Áp dụng Khoản 1 Điều
581 BLDS 2015: “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản
mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi
tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không
có căn cứ pháp luật..”
Vấn đề 3: Thực hiện nghĩa vụ dân sự
(Thanh toán một khoản tiền)
Câu
1: Thông tư 01/TTLT ngày 19/06/1997 cho phép tính lại khoản giá trị tiền phải
thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Theo Điểm a, b Điều 1 Mục
I Thông tư 01/TTLT trên thì việc tính lại khoản giá trị tiền phải thanh toán được
tính như sau:
- Nếu việc gây thiệt hại
hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 01/07/1996 và trong thời gian
từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm
mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo
loại trung bình ở địa phương, tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa
vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm
để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền
đó.
- Nếu việc gây thiệt hại
hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày
1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát
sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có
tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc
bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền. Trong trường hợp người có nghĩa vụ
có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả
theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian
chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tạikhoản 2 Điều 313 Bộ luật
dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Việc tính lại khoản giá
trị tiền phải trả qua trung gian là gạo.
Câu
2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền
cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Thực tế ông Quới sẽ phải
trả cho bà Cô khoản tiền là 3.285.000đ. Cơ sở pháp lý: Điểm a Khoản 1 Thông tư
01/TTLT ngày 29/6/1997 và điều 280 BLDS 2015.
Cách tính như sau: Giá
gạo trung bình năm 1973 là 137đ/kg thì số lượng gạo quy đổi là 365kg (50000đ:137đ/kg=365kg).
Giá gạo tại thời điểm xét xử là 9000đ, vậy số tiền mà tòa án yêu cầu ông Quới
hoàn trả cho bà Cô là 3285000đ (365kg*9000đ/kg=3285000đ).
Câu
3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng
bất động sản như trong tình huống thứ hai không? Vì sao?
Thông tư 01/TTLT ngày
19/06/1997 không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất
động sản trong tình huống trên. Thông tư trên điều chỉnh nghĩa vụ tài sản là
các khoản tiền, vàng (là các khoản tiền, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương,
tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính) và nghĩa vụ tài sản là
hiện vật, chứ không nêu về việc điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng
chuyển nhượng bất động sản.
Câu
4: Đối với tình huống thứ hai, thực tế ông Tấn phải trả cho ông Minh, bà Oanh
khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
Đối với tình huống
trên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng dất của ông Tấn và vợ chồng ông Minh
là 300 triệu, ông Tấn đã thanh toán 1/3 giá trị của hợp đồng, còn lại 2/3 giá
trị chưa thanh toán. Đến thời điểm giải quyết tranh chấp, giá trị của hai phần
đất là 1.200.000.000 đồng. Việc ông Tấn phải thanh toán phần còn thiếu theo giá
cả thị trường là cần thiết. Tức là, 2/3 giá trị hợp đồng mà ông Tấn phải trả
cho vợ chồng ông Minh được tính bằng 2/3 giá trị hiện tại của hai phần đất đó:
800.000.000đồng.
Vì hợp đồng này đã được
tòa công nhận nên các bên phải tiếp tục thực hiện, ông Tấn phải thanh toán tiền
còn thiếu. Số tiền ông Tấn chưa trả khi hợp đồng được công nhận thì phải xác định
tỷ lệ tương ứng diện tích đất chưa trả tiền để tính theo giá thị trường. Nên
ông Tấn phải thanh toán cho ông Minh, bà Oanh phần chênh lệch giữa số tiền mà
ông Tấn chưa trả so với diện tích đất thực tế mà ông Tấn đã nhận tại thời điểm
giao kết hợp đồng theo giá trị quyền sử dụng đất.
*Quan điểm của Thạc sĩ
Đỗ Thành Công về vấn đề:” Thực tiễn xét xử
về thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển giao bất động sản”, Tạp
chí TAND , số 22/2011,”… Nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động
sản, thay vì áp dụng các quy định tương ứng của BLDS, được xác định vào mức
tăng giá trị của bất động sản giao dịch. Đây là một giải pháp không hợp lý và
không nên áp dụng cho nhựng tranh chấp tượng tự. Trong trường hợp bên có nghĩa
vụ vi phạm nghĩa vụ trả tiền, cần áp dụng các quy định của BLDS dựa trên cơ sở
phân biệt giữa trách nhiệm trả nợ gốc cộng với lãi suất trách nhiệm bồi thường
thiệt hại.”
Vậy theo thạc sĩ Đỗ
Thành Công, toà án cần phải giữ nguyên giá trị của bất động sản đang tranh chấp
theo giá của hợp đồng gốc là 300 triệu đồng, áp dụng quy tắc được qui định tại
điều 280 BLDS 2015 (điều 290 BLDS 2005) để xác định nghĩa vụ trả tiền của ông Tấn.
Như vậy ông Tấn phải trả số tiền còn thiếu là 200 triệu đồng công thêm tiền lãi
suất theo thoả thuận.
Vấn đề 4: Chuyển giao Nghĩa vụ dân
sự theo thỏa thuận
Câu
1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao
nghĩa vụ theo thỏa thuận?
Chuyển giao
quyền yêu cầu
|
Chuyển giao
nghĩa vụ dân sự
|
|
Giống
|
·
Hình thức thực hiện: bằng văn bản hoặc bằng lời
nói trừ trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao phải được lập thành
văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký, xin phép thì mới
tuân thực hiện theo quy định đó;
·
Không chuyển giao quyền, nghĩa vụ gắn với nhân
thân
|
|
Khác
|
·
Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng
ý của người có nghĩa vụ;
·
Về biện pháp bảo đảm: sau khi chuyển giao quyền
yêu cầu, BPBĐ vẫn duy trì;
·
Người chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu
trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ;
·
Người chuyển giao quyền yêu cầu phải báo cáo bằng
văn bản cho bên có nghĩa vụ về việc chuyển giao quyền yêu cầu;
|
·
Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự bắt buộc phải có
sự đồng ý của bên có quyền.
·
Sau khi chuyển giao nghĩa vụ thì BPBĐ chấm dứt, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác;
·
Trách nhiệm của người có nghĩa vụ ban đầu về việc
thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ không được quy định rõ;
·
Người có nghĩa vụ dân sư không phải báo cáo bằng
văn bản cho bên có quyền về việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự.
|
Câu
2: Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà
Tú?
Đoạn một và đoạn hai tại
trang 3 của bản án ghi nhận:
“Theo lời khai của bà
Tú thì chính bà Phượng yêu cầu cho Phượng vay tiền để kinh doanh cá khô xuất khẩu
[…] bà Phượng có làm đơn nhận tiền với bà Tú.”
Theo các biên nhận tiền
do phía bà Tú cung cấp thì chính bà Phượng là người trực tiếp nhận tiền của bà
Tú vào năm 2003 với tổng số tiền 555 triệu đồng và theo biên nhận ngày
27/4/2004 thể hiện bà Phượng nhận của bà Lê Thị Nhan số tiền 615 triệu đồng.
Phía bà Phượng không cung cấp được chứng cứ xác định bà Ngọc thỏa thuận vay tiền
của bà Tú. Cũng theo lời khai của bà Phượng, tháng 4/2014 do bà Loan, ông Thạnh,
bà Ngọc không có tiền trả cho bà Tú để trả Ngân Hàng nên bà Phượng cùng bà Tú
vay nóng bên ngoài để trả Ngân Hàng. Xác định bà Phượng là người xác lập quan hệ
vay tiền với bà Tú.
Xét hợp đồng vay tiền
giữa bà Phượng với bà Tú, phía bà Phượng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay,
không trả vốn, lãi cho bà Tú.
Câu
3: Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã chuyển giao
cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?
Đoạn thứ tư, trang ba của
bản án có ghi nhận:
- Phía bà Tú đã chấp nhận
cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ cho bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh thể hiện qua
việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 150.000.000đ vào ngày
12.5.2005. Kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc. bà Loan, ông
Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng với bà Tú đã chấm dứt.
Câu
4: Suy nghĩ của anh (chị) về đánh giá trên của Tòa án?
Theo nhóm em, đánh giá
trên của Tòa án là hoàn toàn hợp lý. Tòa án xác định nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng
đã được chuyển giao sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh là có căn cứ. Bởi lẽ,
theo Điều 315 Bộ luật dân sự 2005 thì bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa
vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý và người thế
nghĩa vụ sẽ trở thành bên có nghĩa vụ. Trong trường hợp này, phía bà Tú đã chấp
nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể
hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 465.000.000đ và hợp
đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền 150.000.000đ vào ngày 12/5/2005. Điều đó thể hiện người có quyền là bà Tú đã đồng
ý với việc chuyển giao này. Khi đã chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận, người
có nghĩa vụ ban đầu là bà Phượng sẽ được giải phóng hoàn toàn, không phải chịu
trách nhiệm liên đới. Thay vào đó bà Ngọc, bà Loan và ông Thanh sẽ trở thành
người thay thế nghĩa vụ, có trách nhiệm trả số nợ còn thiếu cho bà Tú.
Câu
5: Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu
có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa
vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của
các tác giả mà anh/chị biết.
Nhìn từ góc độ quan
điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm
đối với người có quyền khi người thế ngĩa vụ không thực hiện nghĩa
vụ được chuyển giao.
Quan điểm của tác
giả Đỗ Văn Đại về vấn đề này là: “Khi có chuyển giao nghĩa vụ theo
thỏa thuận, người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm với
người có quyền nên người có quyền không thể yêu cầu người có nghĩa
vụ ban đầu thực hiện nghĩa vụ khi người thế nghĩa vụ không thực
hiện nghĩa vụ được chuyển giao. Nếu có nghĩa vụ chuyển giao theo
pháp luật mà khi chuyển giao người có nghĩa vụ ban đầu chết hay chấm
dứt (như do sáp nhập hay hợp nhất) thì hiển nhiên người có quyền
cũng sẽ không thể yêu cầu người có nghĩa vụ ban đầu thực hiện nghĩa
vụ”.
Câu
6: Đoạn nào của bản án cho thấy
Tòa án có theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách
nhiệm đối với người có quyền?
Đoạn của bản án cho
thấy Tòa án có theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách
nhiệm đối với người có quyền là: “Việc của bà Tú giữ chứng minh
Hải quan của bà Phượng theo thỏa thuận. Phía bà Phượng không có
nghĩa vụ trả nợ cho bà Tú, buộc bà Tú hoàn trả lại cho bà Phượng
giấy chứng minh Hải quan”.
Câu
7: Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ
ban đầu và người có quyền?
Thực tế cho thấy quy định
trong các hệ thống luật tương đối khác nhau. Ở châu Âu, một số nước quy định
người có nghĩa vụ ban đầu được giải phóng hoàn toàn nhưng một số nước lại quy định
ngược lại theo hướng người đó có nghĩa vụ bổ sung. Tuy nhiên, theo Bộ nguyên tắc
châu Âu về hợp đồng thì việc chuyển giao nghĩa vụ giải phóng người có nghĩa vụ
ban đầu (Điều 12:101): “người có nghĩa vụ ban đầu không còn bị ràng buộc bởi
các nghĩa vụ của họ”, Bộ nguyên tắc Unidroit (Điều 9.2.5): “ Người có quyền có
thể giải phóng nghĩa vụ cho người có nghĩa vụ ban đầu.” Như vậy, Tòa án giải quyết như thế là hoàn
toàn phù hợp.
Câu
8: Suy nghĩ của anh (chị) về hướng giải quyết trên của Tóa án?
Theo em, hướng giải quyết
trên của Tòa án là hợp lý, phù hợp với tinh thần của Bộ luật dân sự 2005. Theo
đó Khoản 2, Điều 315 quy định: “Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế
nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ”. Nếu cho rằng người có nghĩa vụ ban đầu vẫn
có trách nhiệm đối với người có quyền thì chúng ta sẽ không thấy sự khác nhau
giữa chuyển giao nghĩa vụ được quy định tại Điều 315, 316, 317 với Điều 293 về
“thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba”, theo đó “khi được bên có
quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực
hiện nghĩa vụ dân sự nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người
thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”. Do vậy để
chuyển giao nghĩa vụ là một chế định độc lập với chế định thực hiện nghĩa vụ
thông qua người thứ ba cần xác định rõ chuyển giao nghĩa vụ giải phóng người có
nghĩa vụ ban đầu, trừ khi có thỏa thuận khác. Ở đây, người có nghĩa vụ ban đầu
là bà Phượng không còn nghĩa vụ khi chuyển giao nghĩa vụ có giá trị pháp lý.
Câu
9: Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh
của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm
dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Khi nghĩa vụ được chuyển
giao, biện pháp bảo lãnh chấm dứt theo quy định tai Điều 371 BLDS 2015 9điều
317 BLDS 2005): “Trong trường hợp nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm được
chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, nếu không có thoả thuận khác”.
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^