Dân sự - Hợp đồng - Bài tập tháng thứ hai

Truy cập website mới để xem và tải nhiều tài liệu hơn nhé --> tuihocluat.com

Đóng góp bởi: Linh Hoàng
Vấn đề 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng
Câu 1: Thay đổi về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?
Những thay đổi về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa BLDS 2005 vs BLDS 2015:
a.     Thêm điều khoản loại trừ trong trường gây thiệt hại phải bồi thường tại Khoản 1:
Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp BLDS 2015, luật khác có liên quan quy định khác.
b.    Quy định lại trường hợp không phải chịu trách nhiệm BTTH tại Khoản 2:
Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm BTTH trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
c.     Bổ sung thêm quy định tại Khoản 3:
Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm BTTH, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định nêu trên.
(Căn cứ Điều 584 Bộ luật dân sự 2015)

Câu 2: Việc Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng BLDS 2005 mà áp dụng BLDS 2015 về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 (thay vì Khoản 1 Điều 604 như Tòa án cấp sơ thẩm) về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là thuyết phục.
·       Vì tại thời điểm TAND huyện L, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm là ngày 24/3/2017. Tại thời điểm này, BLDS 2015 đã có hiệu lực (từ ngày 1/1/2017).
·       Ngoài ra, Khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 chỉ quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có lỗi, trong khi Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 xác định rằng người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu lỗi hoàn toàn thuộc về bên bị thiệt hại. Điều này phù hợp với nội dung, tình tiết vụ án và ý chí của HĐXX.        

Câu 3: Theo anh/chị, trong vụ việc trên đã thiếu căn cứ gì để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng? Vì sao?
Trong vụ việc trên, căn cứ bị thiếu là yếu tố lỗi, mối quan hệ nhân quả và hành vi trái pháp luật của ông Danh H, không đủ 4 yếu tố trên lý thuyết để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Do việc cơ quan cảnh sát Điều tra, lời khai của phần lớn các nhân chứng đều xác định ông Danh S tự ngã xuống sàn, chứ không hề có sự tác động của ông H dẫn đến cái chết của ông S.







Vấn đề 2: Bồi thường thiệt hại phát sinh trong tai nạn giao thông
Câu 1: Thay đổi về Các quy định liên quan tới Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?
Ở Khoản 3 và Khoản 4, Điều 623, BLDS 2005 chỉ liệt kê hai chủ thể có thể liên đới chịu trách nhiệm bồi thường với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật là nguồn nguy hiểm cao độ. Tuy nhiên, trong thực tế, việc giới hạn ở hai chủ thể là “chủ sở hữu” và “người được chủ sở hữu giao” nguồn nguy hiểm cao độ đã thể hiện sự bất cập và trong thực tiễn xét xử, Toà án đã giải quyết theo hướng mở rộng danh sách chủ thể có thể phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại[1].
Vì thế, tại Khoản 3, Khoản 4, Điều 601, BLDS 2015 đã thay đoạn “người chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng” thành “người chiếm hữu, sử dụng”. Bởi lẽ, ai được giai giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không quan trọng và người nào có lỗi để cho nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Đồng thời, để thống nhất với Khoản 4, BLDS 2015 đã bỏ đi cụm từ “chủ sở hữu” tại Khoản 3, Điều 623, BLDS 2005. Hướng sửa đổi trên là thuyết phục, bao quát được hết những trường hợp bồi thường, mở rộng chủ thể liên đới chịu trách nhiệm bồi thường, bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại[2].

Câu 2: Xe máy, ô tô có là nguồn nguy hiểm cao độ không?
Theo Khoản 1 Điều 123 BLDS 2015: Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, …
Thei Khoản 18 Điều 3 Luật GTĐB 2008: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.
Như vậy xe máy, ô tô được xem là nguồn nguy hiểm cao độ.

Câu 3: Trong hai vụ việc trên, thiệt hại là do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay do con người gây ra? Vì sao?
 - Quyết định số 23/DS-GĐT: Thiệt hại do hành vi của con người gây ra; vì anh Khoa khi điều khiển ô tô đã phát hiện được xe đạp của anh Bình và xe của ông Dũng ở phía trước, nhưng do không làm chủ được tốc độ và tay lái nên đã để ô tô chèn qua xe đạp của anh Bình và đè gãy đùi trái của anh Bình. Trong trường hợp này, xe ô tô chỉ là phương tiện mà người
điều khiển sử dụng gây thiệt hại.
 - Quyết định số 30/2006/HS-GĐT: Thiệt hại do hành vi của con người gây ra, đó là hành vi điều khiển xe môtô của Nguyễn Văn Giang. Xe môtô trong tình huống này là phương tiện mà người điều khiển sử dụng gây thiệt hại.

Câu 4: Trong hai vụ việc trên, đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?
 - Trong Quyết định số 23/GĐT-DS ngày 2-2-2005, đoạn cho thấy Tòa án đã vận dụng các chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
   “Mặt khác, như đã phân tích trên trong vụ án này anh Khoa cũng có một phần lỗi. Tòa án cấp phúc thẩm buộc chủ phương tiện là ông Vũ Hồng Khánh bồi thường cho anh Bình là đúng, nhưng lại áp dụng khoản 3 Điều 627 là không chính xác mà phải áp dụng khoản 2 Điều 627 Bộ luật Dân sự mới đúng.”
 - Trong Quyết định số 30/2006/HS-GĐT ngày 26-9-2006, đoạn cho thấy Tòa án đã vận dụng các chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
   “Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 1995) về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và hướng dẫn tại điểm b khoản 2 mục III Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: “Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không đúng quy định của pháp luật thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại””.

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án đã vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Tòa án vận dụng các chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là thuyết phục.
- Đối với Quyết định số 23/GĐT-DS ngày 2-2-2005, anh Dũng (điều khiển xe máy), anh Khoa (điểu khiển ô tô) cùng có lỗi đồng thời gây ra thiệt hại cho anh Bình, Tòa án đã áp dụng Khoản 2, Điều 627, BLDS 1995 để giải quyết về Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng, thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Căn cứ vào quy định của BLDS 1995 đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra thiệt hại cho anh Bình cũng như căn cứ vào Khoản 1, Điều 623, BLDS 2005 và Nghị Quyết số 03 thì ô tô xe máy là nguồn nguy hiểm cao độ. Theo đó, chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do những phương tiện này gây ra. Do đó, Tòa án vận dụng chế định của nguồn nguy hiểm cao độ là hợp lí.
- Đối với Quyết định số 30/2006/HS-GĐT, bà Trinh đã giao xe máy thuộc sở hữu của chồng mình cho Giang (đại diện hợp pháp là ông Trường bà Lài - cha mẹ của Giang) điều khiển chở bà Phê và bà Huê gây ra tai nạn làm bà Giỏi chết.
Trường hợp này Tòa án sử dụng Điều 623, BLDS 2005 và Nghị Quyết số 03 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết buộc bà Trinh và đại diện của Giang liên đới bồi thường thiệt hại.
Xe máy do Giang điều khiển được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tại Khoản 1 Điều 623 BLDS 2005:
1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”.
Do vậy, Tòa án áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là hợp lí. Giang chưa đủ tuổi điều khiển xe máy. Việc giao xe cho Giang của bà Trinh là không đúng quy định, Giang cùng có lỗi khi điều khiển nên cùng liên đới bồi thường cho bà Giỏi như quy định tại Điều 623, BLDS 2005 là phù hợp.
*Trong quyết định số 30,
Câu 6: đoạn nào cho thấy Tòa án đã buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại?
  Đoạn của Quyết định số 30 cho thấy Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại là:
  “Nguyễn Thị Tuyết Trinh giao nguồn nguy hiểm cao độ (xe môtô) cho Nguyễn Văn Giang sử dụng trái pháp luật, do đó Trinh là người có trách nhiệm bồi thường khi thiệt hại xảy ra”.
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại.
  Căn cứ vào khoản 2, Điều 606, BLDS 2005 về Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân:
  2. Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.
   Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”.
Ø Ta thấy là Giang đã sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ (xe mô tô) trái với qui định của pháp luật nên khi xảy ra tai nạn thì ông Giang phải bồi thường thiệt hại. Theo quy định trên thì Giang (16 tuổi) phải bồi thường cho người bị hại bằng tài sản của mình, nếu không đủ để bồi thường thì ông Trường và bà Lài phải bồi thường phần còn thiếu đó bằng tài sản của mình.
Theo như qui định tại Điều 623 BLDS năm 2005 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
  4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
    Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”.
Bên cạnh đó, dù biết Giang không đủ điều kiện điều khiển xe mô tô nhưng bà Trinh vẫn giao cho ông Giang sử dụng xe mô tô và chiếc xe đó là tài sản của vợ chồng bà Trinh và ông Mướt. Tuy nhiên, không có căn cứ kết luận ông Mướt có lỗi trong việc để Giang sử dụng xe trái pháp luật nên ông Mướt không phải bồi thường. Như vậy, ta thấy chỉ có bà Trinh có lỗi (vô ý) trong việc giao cho Giang sử dụng chiếc xe máy nên bà Trinh cũng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Vì vậy, trong vụ việc trên thì bà Trinh và ông Giang phải liên đới để bồi thường thiệt hại
chứ không phải chỉ có bà Trinh chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Câu 8: Trên cơ sở Điều 604 BLDS 2005, Điều 584 BLDS 2015, Tòa án có thể buộc Giang bồi thường thiệt hại không? Vì sao?
  Trên cơ sở Điều 604 BLDS 2005 và Điều 584 BDLS 2015, Tòa án có thể buộc Giang bồi thường thiệt hại, vì hành vi của Giang có đủ những yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
1)   Có thiệt hại xảy ra, đó là bà Giỏi bị chấn thương sọ não và chết trên đường đi cấp cứu.
2)   Có hành vi trái pháp luật, đó là hành vi điều khiển xe mô tô đâm vào người đang đi bộ qua đường.
3)   Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật: hành vi điều khiển xe mô tô Giang đâm vào bà Giỏi đang đi bộ qua đường làm bà Giỏi chết.
4)   Có lỗi của người gây thiệt hại: Giang chưa đủ tuổi để lái xe và trên xe chở 3 người nên đã vi phạm luật giao thông và Giang có lỗi vô ý đối với việc gây ra thiệt hại cho bà Giỏi.
Câu 9: Theo Nghị quyết số 03, cho phí xây và chụp ảnh có được bồi thường không? Vì sao?
 Theo Tiểu mục 2.2, Mục 2, Phần II, Nghị quyết số 03 quy định:
2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ…”.
Theo các quy định trên thì chi phí xây mô và chụp ảnh không thuộc các khoản chi phí hợp lí cho việc mai táng. Như vậy theo BLDS và Nghị quyết số 03 thì chi phí xây mộ và chụp ảnh không được bồi thường.

Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa phúc thẩm và Tòa Giám đốc thẩm liên quan đến chi phí xây mộ và chụp ảnh?
  Tòa phúc thẩm và Tòa giám đốc thẩm xét theo hướng không bồi thường chi phí xây mộ và chụp ảnh là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét trong thực tiễn cuộc sống, chi phí xây mộ và chụp ảnh không thể xét theo một mức chung được, tùy vào hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình mà chi phí cho việc xây mộ và chụp ảnh nhiều hay ít cho nên ta không thể quy kết phải bồi thường trong một khung tiền đã định trước được.
Vì vậy, nếu Tòa án bắt buộc phải bồi thường chi phí trên thì sẽ phát sinh nhiều tiêu cực như một số gia đình sẽ lợi dụng việc trên để kiếm thêm khoản tiền bồi thường như xây mộ rộng, lớn hơn, khang trang hơn, …thì sẽ làm tăng thêm chi phí bồi thường, điều này sẽ không công bằng với người phải bồi thường vì họ chỉ phải bồi thường theo đúng nghĩa vụ với thiệt hại mà họ đã gây ra, những khoản phát sinh thêm là vô lý.
 *Trong quyết định số 23,
Câu 11: Đoạn nào cho thấy anh Bình là người bị thiệt hại?
  Trong Quyết định số 23, đoạn cho thấy Bình là người bị thiệt hại:
  “Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định trong trường hợp này cả anh Bình, ông Dũng và anh Khoa cùng có lỗi gây ra vụ tai nạn trên và gây thiệt hại cho anh Bình (trong đó anh Bình có lỗi chính) là có cơ sở đúng pháp luật”.
Câu 12: Ông Khánh có trực tiếp gây ra thiệt hại cho anh Bình không? Vì sao?
 - Ông Khánh không trực tiếp gây ra thiệt hại cho anh Bình.
 - Vì anh Khoa là người điều khiển ô tô gây ra tại nạn, ông Khánh chỉ là chủ sở hữu phương tiện đã giao tài sản cho anh Khoa sử dụng chứ không phải là người điều khiển phương tiện gây ra thiệt hại.
Câu 13: Tòa án buộc ông Khánh bồi thường cho anh Bình với tư cách nào? Vì sao?
- Tòa án buộc ông Khánh bồi thường cho anh Bình với tư cách là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ.
 - Vì căn cứ vào Khoản 2, Điều 627, BLDS 1995 (Khoản 2, Điều 601, BLDS 2015):
   “2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Câu 14: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án buộc ông Khanh bồi thường cho anh Bình.
  Việc Tòa án buộc ông Khánh bồi thường cho anh Bình là hợp lý, nếu anh Khoa chỉ là người được ông Khánh thuê lái xe ô tô và được trả tiền công (nói cách khác, anh Khoa là người làm công cho ông Khánh).
Trong Quyết định số 23, Tòa dân sự không nêu rõ mối quan hệ giữa ông Khánh và anh Khoa, mà chỉ cho biết ông Khánh là chủ sở hữu chiếc xe ô tô gây tai nạn. Như vậy, có hai khả năng có thể xảy ra: Anh Khoa là người làm công của ông Khánh hoặc anh Khoa là người được ông Khánh giao xe ô tô qua hợp đồng thuê tài sản.
Căn cứ Tiểu mục đ, Mục 2, Phần III, Nghị quyết số 03, nếu anh Khoa là người làm công cho ông Khánh, anh Khoa không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà ông Khánh vẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, ông Khánh phải bồi thường. Ngược lại, nếu anh Khoa được ông Khánh giao xe ô tô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có nghĩa là ông Khánh không còn chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà anh Khoa là người được ông Khánh giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp; do đó, anh Khoa phải bồi thường thiệt hại.
Theo nhóm, Tòa án nên xác định rõ trong quyết định mối quan hệ giữa ông Khánh và anh Khoa trước khi áp dụng Khoản 2, Điều 623, BLDS 2005.
Câu 15: Bình có lỗi trong việc để phát sinh thiệt hại không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Bình có lỗi trong việc để thiệt hại phát sinh.
Đoạn của bản án cho câu trả lời:
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định trong trường hợp này cả anh Bình, ông Dũng và anh Khoa cùng có lỗi gây ra vụ tai nạn trên và gây thiệt hại cho anh Bình (trong đó anh Bình có lỗi chính) là có cơ sở đúng pháp luật”.
Câu 16: Đoạn nào cho thấy, Tòa giám đốc thẩm không theo hướng buộc ông Dũng và ông Khanh bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Bình?
  Đoạn của bản án cho thấy Tòa giám đốc thẩm không theo hướng buộc ông Dũng và ông Khánh bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Bình:
  “Nhưng lại buộc ông Dũng và ông Khánh bồi thường toàn bộ, mà không xem xét đến trách nhiệm của anh Bình là không chính xác”.
Câu 17: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa GĐT.
Về hướng giải quyết không buộc ông Dũng và ông Khánh bồi thường hoàn toàn thiệt hại cho anh Bình của Tòa Giám Đốc thẩm là hơp lý, nhưng Tòa cho rằng nguyên nhân dẫn đến việc này là do có lỗi từ phía anh Bình là chưa thỏa đáng.
Vì xét về phía anh Bình, anh không có lỗi cố ý trong việc điều khiển xe đạp đi vào phần đường giữa hai làn xe cơ giới, việc điều khiển xe đạp vào giữa hai làn xe cơ giới, xuất phát từ việc ông Khánh (chủ ô tô tải) chở đầy gỗ đỗ ở giữa làn đường dành cho xe cơ giới và xe thôi sơ. Còn về phía ông Dũng, ông có lỗi trong việc gây ra thiệt hại vì đã không làm chủ được tốc độ và không tuân thủ khoảng cách an toàn, xét thấy việc không tuân thủ này của ông Dũng có mối quan hệ trực tiếp đến việc anh Bình bị thương và vì anh Bình không có lỗi cố ý, thiệt hại này xảy ra không hoàn toàn do lỗi của anh Bình, nên theo khoản 3 Điều 627 BLDS 1995 thì ông Khánh và ông Dũng phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Bình.
Nếu trong vụ việc này, chỉ có ông Dũng và ông Khánh gây ra thiệt hại cho anh Bình thì hai người phải liên đới bồi thường toàn bộ, vì có căn cứ cho rằng hậu quả xảy ra có nguyên nhân từ việc không tuân thủ luật ATGT của hai ông. Nhưng vì trong vụ việc này anh Khoa cũng có một phần lỗi, nhưng vì anh Bình không kiện đòi bồi thường từ anh Khoa, nên dù bị anh Bình yêu cầu đòi bồi thường thì hai người cũng có thể chỉ phải bồi thường phần thiệt hại ứng với mức độ lỗi của mình, hoặc có thể bồi thường toàn bộ, nhưng sau đó có quyền yêu câu anh Khoa hoàn trả lại 1 phần ứng với lỗi của anh Khoa.
Câu 18: BLDS và Nghị quyết số 03 có quy định cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại không?
BLDS 2015 và Nghị quyết số 03 không có quy định cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại.
  Tuy nhiên, ta vẫn có thể vận dụng một số chế định khác trong phần này như: Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra (Điều 600), bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra (Điều 597), bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra (Điều 598),… để cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ (nếu thuộc trường hợp mà điều luật quy định) yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc gây thiệt hại hoàn trả khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại.
Câu 19: Tòa GĐT có theo hướng cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại không?
Tòa giám đốc thẩm đã theo hướng cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại.
 Đoạn của quyết định cho câu trả lời:
   “Đồng thời, Tòa án các cấp không dành cho ông Khánh quyền khởi kiện yêu cầu anh Khoa bồi thường cho ông Khánh số tiền mà ông bồi thường cho anh Bình do lỗi của anh Khoa, nếu ông Khánh và ông Khoa không tự thương lượng giải quyết được là không đảm bảo quyền lợi cho ông Khánh”.
Câu 20: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa GĐT theo hướng cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại.
Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm theo hướng cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại là hợp lý trong vụ án được đề cập. Tuy nhiên, nhìn chung, hướng giải quyết này chỉ hợp lý trong trường hợp người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc gây thiệt hại.
Mặc dù, như đã nêu ở trên, trong phần chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không có quy định về trách nhiệm hoàn trả của người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nhưng trong đa số các trường hợp người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là người làm công hoặc người của pháp nhân, … Do đó, việc vận dụng kết hợp cả hai chế định là hợp lý và cũng không vi phạm quy định nào khác. Nếu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì họ cũng nên chịu trách nhiệm về hành vi có lỗi của mình, tức là hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền mà chủ sở hữu đã bỏ ra để bồi thường thiệt hại. Điều này giúp bảo vệ tốt quyền lợi của chủ sở hữu. Ngược lại, nếu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại khi hoàn toàn không có lỗi thì không phải hoàn trả cho chủ sở hữu.

Vấn đề 3: Bồi thường thiệt hại trong hay ngoài hợp đồng
Câu 1: Những điểm khác nhau cơ bản giữa bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Tiêu chí
Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Nguồn gốc
phát sinh
Được xây dựng nên bởi các quy phạm điều chỉnh chế định hợp đồng.
Chỉ tồn tại khi một hợp đồng tồn tại, trách nhiệm này phát sinh khi xuất hiện sự vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng.
Là loại trách nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài, khi tồn tại một hành vi vi phạm pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành vi này cũng không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.
Thiệt hại không chỉ là nền tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Về căn cứ
xác định
trách nhiệm
Thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc.
Chỉ cần có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã có thể phát sinh trách nhiệm dân sự.
Khi hợp đồng được giao kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ là vi phạm hợp đồng.
Hai bên có thể dự liệu và thỏa thuận trước về những trường hợp thiệt hại do vi phạm hợp đồng và cách thức chịu trách nhiệm như bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm hợp đồng.
Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần, thiệt hại là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm:
·       hành vi vi phạm pháp luật,
·       có thiệt hại thực tế,
·       có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế
·       yếu tố lỗi.
Hành vi
Vi phạm
Hành vi này là hành vi vi phạm những cam kết cụ thể, những nghĩa vụ mà hai bên tự ràng buộc nhau trong hợp đồng, tức là hành vi này chưa chắc đã vi phạm các quy định pháp luật chung mà chỉ vi phạm “pháp luật” thiết lập giữa những người tham gia giao kết hợp đồng.
Hành vi này là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật nói chung, những quy định do nhà nước ban hành dẫn đến thiệt hại, vì vậy đó có thể là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật chuyên nghành khác như hình sự, hành chính, kinh tế…


Chủ thể chịu trách nhiệm
- Chỉ ràng buộc giữa những chủ thể đã tham gia thỏa thuận, kí kết trong hợp đồng.
- Bên nào vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng thì có trách nhiệm phải bồi thường.
- Chủ thể trực tiếp gây ra thiệt hại, trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã kí kết.
- Có trường hợp chủ thể trực tiếp gây ra thiệt hại không phải bồi thường...
Yếu tố
lỗi
Phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý của người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Việc phân biệt lỗi vô ý và cố ý cũng có ý nghĩa nhưng bên cạnh đó thì người có hành vi vi phạm có thể chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi trong trường hợp pháp luật có quy định.
Thời điểm phát sinh trách nhiệm
Kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực và có bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Kể từ thời điểm xảy ra hành vi
gây thiệt hại.
Về tính liên đới trong chịu trách nhiệm
Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ liên đới chịu trách nhiệm nếu khi giao kết hợp đồng họ có thỏa thuận trước về vấn đề chịu trách nhiệm liên đới.
Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ đều phải chịu trách nhiệm liên đới theo các quy định cụ thể của pháp luật dân sự.

Câu 2: Trong hai vụ việc trên có tồn tại quan hệ hợp đồng giữa bên bị thiệt hại và bên bị yêu cầu bồi thường thiệt hại không? Vì sao?
           I.            Quyết định số 451/2011/DS-GĐT ngày 20-6-2011 liên quan đến vụ án tranh chấp giữa ông Nghinh và Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Yên Đỗ:
·       Ông Nghinh vay của Ngân hàng 2.000.000đ trong thời hạn 8 tháng, lãi suất 2,5%/tháng để phục vụ cho sản xuất trong gia đình. Ông đã thế chấp căn nhà của mình để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Ông Nghinh trả được một tháng tiền lãi thì do kinh tế khó khăn nên không kịp trả lãi đúng hạn nữa. Ngân hàng mới tự ý bán đấu giá căn nhà của ông đã thế chấp để thu hồi nợ, gây thiệt hại cho ông Nghinh.
·       Thực tế giữa hai bên tồn tại quan hệ hợp đồng. Bởi trước khi Ngân hàng cho ông Nghinh vay tiền, giữa hai bên đã có sự thỏa thuận trước về thời hạn, mức lãi cũng như biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Tức là giữa hai bên đã có sự tồn tại của quan hệ hợp đồng, ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên.
·       Tuy nhiên, việc tranh chấp xảy ra là nằm ngoài khuôn khổ của hợp đồng bởi vì hai bên chỉ thỏa thuận là thế chấp căn nhà để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông Nghinh, chứ không đề cập đến chuyện phải thông qua ông Nghinh hay Ngân hàng được toàn quyền xử lí tài sản thế chấp khi ông Nghinh nợ quá hạn.

       II.            Trong vụ việc tại bản án số 750/2008/DS-PT, giữa người bị thiệt hại là ông Trương Hoàng Bá và bên bị yêu cầu bồi thường thiệt hại là BV ĐH Y Dược TP.HCM có tồn tại quan hệ hợp đồng. Đó là hợp đồng ông Bá nhờ BV tiến hành phẫu thuật nang mũi môi phải cho ông.
·       Vợ của ông Bá là bà Phi khởi kiện bệnh viện Y dược thành phố Hồ Chí Minh phải bồi thường thiệt hại vì đã gây ra cái chết cho ông Bá.
Ø Do đó, quan hệ hợp đồng không tồn tại giữa bà Phi và bệnh viện Y dược. Hay nói cách khác, đây là trường hợp thiệt hại ngoài hợp đồng.

Câu 3: Trong hai vụ việc trên, Tòa án đã theo hướng quan hệ giữa các bên là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay trong hợp đồng?
Trong bản án số 451, Tòa án đã theo hướng quan hệ giữa các bên là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đoạn của bản án cho thấy là:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoại hợp đồng” là đúng. Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định “Tranh chấp về hợp đồng dân sự là sai”.
Trong bản án số 750, Tòa án cũng theo hướng như ở bản án nêu trên/ Đoạn của bản án cho thấy là:
“Theo quy định tại Điều 604 BLDS 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố: …”.

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong hai vụ việc trên về vấn đề xác định bản chất pháp lý (trong hay ngoài hợp đồng) quan hệ bồi thường giữa các bên.
Hướng giải quyết của Tòa án trong vụ việc đầu tiên về vấn đề xác định bản chất pháp lí (trong hay ngoài hợp đồng) quan hệ bồi thường giữa các bên là chưa thuyết phục. Còn ở vụ việc thứ hai, thì Tòa án đã xác định đúng.
Vì trong vụ việc thứ nhất TAND tối cao xác định rằng “tranh chấp ngoài hợp đồng là đúng” nhưng chưa đưa ra chứng cứ để khẳng định là đúng, tòa án cho rằng tòa phúc thẩm xác định tranh chấp hợp đồng dân sự là sai nhưng cũng không đưa ra căn cứ chứng minh. Như vậy là không có sự thuyết phục. Để xác định đây là bồi thường ngoài hợp đồng thì phải xem xét quá trình phát mãi nhà đất trên có đúng pháp luật hay không và gia đình ông Nghinh có biết hay không mới có thể xác định nhưng tòa án chưa xem xét mà đã cho rằng thuộc trường hợp bồi thường ngoài hợp đồng là không hợp lí.
Bản án số 750 Tòa án chưa xác định rõ ràng là trong hay ngoài hợp đồng. Nhưng đã có căn cứ xác định bác sĩ và ê kíp không có lỗi, không có hành vi trái pháp luật nên không thể xác định là bồi thường ngoài hợp đồng. Cũng không có căn cứ để yêu cầu bệnh viện bồi thường trong hợp đồng. Vận nên Tòa đã tuyên bà Yến Phi không có căn để đòi bồi thường.

Vấn đề 4: Tìm kiếm tài liệu
Câu 1: Liệt kệ những bài viết liên quan đến pháp luật bời thường thiệt hại ngoài hợp đồng được công bố trên các tạp chí chuyên nghành luật từ đầu năm 2014 đến nay. Khi liệt kê, yêu cầu phải viết theo trật tự như đã yêu cầu trong buổi thảo luận thứ 3.
STT
Tên tạp chí
1
Nguyễn Hồng Bắc – Lê Thị Bích Thủy, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam – những bất cập và hướng hoàn thiện, Tạp chí Luật học, Số 4/2014, tr. 3-11.
2
Ngô Quốc Chiến, Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam xét xử vụ việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Toà án nhân dân, Số 7/2015, tr. 33 – 38.
3
Ngô Quốc Chiến, Về lựa chọn áp dụng pháp luật cho bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi), Tạp chí Toà án nhân dân, Số 21/2015, tr. 06 – 09, 48.
4
Trần Việt Dũng, Truất hữu tài sản của nhà đầu tư nước ngoài và trách nhiệm bồi thường của quốc gia trong Luật Đầu tư quốc tế hiện đại, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 8/2014, tr. 77 – 84.
5
Đỗ Văn Đại – Nguyễn Trương Tín, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người khác gây ra, Tạp chí Khoa học pháp lý Đại học Luật TPHCM, Số 05/2013, tr. 67 – 74.
6
Đỗ Văn Đại Nguyễn Trương Tín, Những điểm mới về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật Dân sự năm 2015 những trường hợp bồi thường cụ thể - Kỳ I, Tạp chí Toà án nhân dân, Số 11/2016, tr. 10 – 13, 17.
7
Đỗ Văn Đại Nguyễn Trương Tín, Những điểm mới về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 những trường hợp bồi thường cụ thể - Tiếp theo kỳ trước và hết, Tạp chí Toà án nhân dân, Số 13/2016, tr. 13 – 16.
8
Đỗ Văn Đại Lê Hà Huy Phát, Những điểm mới về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Toà án nhân dân, Số 7/2016, tr. 14 – 20.
9
Hoàng Đạo – Vũ Thị Lan Hương, Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 13/2013, tr. 34 – 40.
10
Mai Hải Đăng, Pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, Tạp chí Luật học Đại học Luật Hà nội, Số 06/2013, tr. 23 – 31.
11
Nguyễn Trọng Điệp, Bồi thường thiệt hại trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội – Luật học, Tập 29, Số 2/2013, tr. 44 – 49.
12
Bùi Thị Thanh Hằng – Đỗ Giang Nam, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tác động của tài sản gây ra dưới góc nhìn so sánh, Tạp chí Luật học Đại học Luật Hà Nội, Số 3/2013, trang 61 – 72.
13
Fushihara Hirota, Bình luận và kiến nghị về “thiệt hại khi tính mạng bị xâm phạm” trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 8(281)/2015, tr. 13 – 18.
14
Bùi Nguyên Khánh, Một số ý kiến đóng góp cho Dự thảo BLDS (sửa đổi) – phần liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 9 – 2014, từ tr. 25 – 29.
15
Nguyễn Đức Long, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường theo hiến pháp và tác động của nó tới quá trình hoàn thiện pháp luật môi trường, Tạp chí Luật học, tháng 6 – 2014, từ tr. 20 – 26. 
16
Đoàn Đức Lương, Những khó khăn trong việc xác định chủ thể bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Tạp chí Toà án nhân dân, Số 20/2014, tr. 27 – 28.
17
Khuất Quang Phát Ngô Thu Trang, Lý luận về chế định trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu cùng, Tạp chí Luật học, Số 8(195)/2016, tr. 68 – 76.
18
Trương Hồng Quang, Góp ý các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Số 4(324)/2015, tr. 16 – 19.

Câu 2: Cho biết thế nào để tìm được những bài viết trên?
 - Tìm kiếm tài liệu tại Thư viện tầng 5 phòng A.503 cơ sở Nguyễn Tất Thành.
 - Tìm kiếm tài liệu thông qua mạng Internet.







[1] Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai), tr. 487.
[2] Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai), tr. 488

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu ver 2

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu

Hình sự- Bài tập - CÁC TỘI PHẠM VỀ QUẢN LÝ