Dân sự - Hợp đồng - Buổi thảo luận thứ 2
Truy cập website mới để xem và tải nhiều tài liệu hơn nhé --> tuihocluat.com
Đóng góp bởi: Linh Hoàng
VẤN ĐỀ 1: IM LẶNG TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
Câu 1:
Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết
hợp đồng?
BLDS 2005 đã ghi nhận vai trò của im lặng nhưng không nêu
trong phần chấp nhận giao kết hợp đồng mà trong phần xác định thời điểm hợp đồng
được giao kết.BLDS 2015 đã khắc phục được nhược điểm nói trên. BLDS 2015 theo hướng thông im lặng không là chấp nhận đề
nghị giao kết hợp đồng nhưng có ngoại lệ, khi thỏa thuận hay thói quen của các
bên, im lặng vẫn là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng [1].
Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy anh Đạt đã
chuyển nhượng tài sản cho ông Nâu?
Đó là đoạn 1 phần xét thấy: “Căn
cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì ngày 30/03/2004 anh Nguyễn Phát Đạt
lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Nâu (là chú của anh Đạt)
670m2 đất theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng số 02164/QSDĐ/B2 ngày 16-4-1995 do Ủy ban nhân dân huyện
Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cấp đứng tên anh Đạt với giá 250.000.000 đồng (…) Anh
Đạt đã giao đất để ông Nâu sử dụng tại thời điểm đó. Tuy nhiên, không thể hiện
việc ông Nâu trả tiền thay anh Đạt tại Ngân hàng như hai bên thỏa thuận”.
Câu 3: Đoạn nào của Quyết định cho thấy tài sản anh
Đạt chuyển nhượng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ anh Đạt)?
Đó là đoạn 6, phần xét thấy: “Tuy
nhiên, khối tài sản anh Đạt thế chấp cho ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt
và chị Linh (vợ của anh Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nêu trên mới chỉ có chữ ký của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh
có biết việc chuyển nhượng hay không?”
Câu 4: Việc chuyển nhượng trên có cần sự đồng ý của
chị Linh không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
-
Tòa
án đã xác định quyền sử dụng đất chuyển nhượng trên là tài sản chung của vợ
chồng anh Đạt và chị Linh nên việc chuyển nhượng bất động sản là tài sản chung
cần phải có sự đồng ý của chị Linh.
-
Cơ sở pháp lý cho
nhận định trên bao gồm khoản 2, khoản 3 Điều 219
BLDS 2005 (Điều 213 BLDS 2015) và Điều 33,35 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
ü Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy
định:
“1.
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2.
Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng
trong những trường hợp sau đây:
a)
Bất động sản;
b)
Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c)
Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”
Câu 5: Theo BLDS và thực tiễn xét xử Việt
Nam khi nào im lặng được coi là chấp nhận (đồng ý) hợp
đồng?
v Theo BLDS VN:
ü Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự cũng được xem như giao kết khi hết thời hạn trả lời
mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời
chấp nhận giao kết”.
Như vậy theo BLDS 2005 thì im lặng được coi là chấp nhận hợp đồng
nếu giữa hai bên có sự thỏa thuận với nhau về việc im lặng là sự trả lời chấp
nhận giao kết.
ü Khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 quy định: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi
là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo
thói quen đã được xác lập giữa các bên.”.
Như vậy theo BLDS 2015 thì
im lặng không được coi là chấp nhận hợp đồng trừ trường hợp giữa hai bên có sự
thỏa thuận với nhau về việc im lặng hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa hai
bên về việc im lặng khi giao kết hợp đồng
v Theo thực tiễn
xét xử tại Việt Nam, sự im lặng không đủ để suy luận sự đồng ý hay không đồng ý
chấp nhận hợp đồng. Tòa án các cấp không thể kết luận ngay hợp đồng không có
giá trị pháp lý khi chưa xác định rõ ý chí của người giữ im lặng. Tuy nhiên, sự
im lặng có thể là một biểu hiện của sự chấp nhận nếu tồn tại yếu tố khác. Sau
đây là các yếu tố cho phép suy luận đã có sự chấp nhận hợp đồng:
1)
Việc bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng nhưng sau
đó yêu cầu bên kia thực hiện hợp đồng.
VD: Theo Quyết định số 18/2003/HĐTP-DS ngày 30/05/2003 của HĐTP
TANDTC, ông Lung là chủ sở hữu diện tích 120m2 nhà trên diện
tích 1199m2 đất. Vào ngày 24/09/1999, ông Lung thỏa thuận bán
căn nhà trên cho vợ chồng ông Thọ. Năm 2000, hai bên xảy ra tranh chấp. Khi sự
việc chưa được giải quyết thì ông Lung chết. Trong hợp đồng không có chữ ký của
bà Hiền vợ ông Lung. Theo Viện kiểm sát, đây là việc bán nhà thuộc sở hữu của vợ
chồng mà chưa có sự đồng ý của bà Hiền. Nhưng theo HĐTP: “Mặc dù bà Hiền là
vợ ông Lung không ký hợp đồng mua bán nhà với ông Thọ nhưng bà Hiền không những
không có ý kiến phản đối và còn yêu cầu ông Thọ thực hiện hợp đồng đã ký với
ông Lung, nên không có căn cứ cho rằng ông Lung đã bán nhà mà không được sự đồng
ý của bà Hiền như lập luận trong kháng nghị của Viện Kiểm sát”. Như vậy,
trong quá trình giao kết hợp đồng, bà Hiền không ký vào hợp đồng và cũng không
phản đối gì. Điều đó có nghĩa là trong quá trình giao kết hợp đồng, bà Hiền đã
im lặng. Mặc dù vậy, theo HĐTP, bà Hiền đã đồng ý chấp nhận hợp đồng và điều đó
được suy luận từ việc bà Hiền yêu cầu thực hiện hợp đồng.
2)
Bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng tiếp nhận việc
thực hiện hợp đồng của bên kia và cũng tiến hành thực hiện hợp đồng từ phía
mình.
VD: Theo Quyết định số 38/GĐT-DS
ngày 29/03/2004 của Tòa dân sự TANDTC, vào ngày 03/01/2003, anh Nguyên ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của hai vợ chồng anh cho vợ chồng
anh chị Kỷ, Lộc. Theo TANDTC, “Việc lập
hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trên tuy không có mặt của chị Bá (vợ anh
Nguyên) nhưng căn cứ vào biên bản giám định và lời khai của chị Bá thì trong
quá trình thực hiện hợp đồng, chị Bá đã tham gia nhận tiền hai lần. Mặt khác,
tháng 06/2001, khi vợ chồng chị Bá, anh Nguyên chuyển về TP HCM đã bàn giao
toàn bộ nhà, đất và tài sản khác cho vợ chồng chị Kỷ, anh Lộc. Như vậy có cơ sở
khẳng định chị Bá biết và cũng đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho
vợ chồng chị Kỷ, anh Lộc.”
3)
Bên giữ im lặng trong quá trình giao kết biết rõ việc thực hiện
hợp đồng nhưng không có phản đối gì.
VD: Theo Quyết định số 27/2003/HĐTP-DS
ngày 26/08/2003 của HĐTP TANDTC: “Năm 1991 và 1993, ông Quang đã bán
ao, đất vườn. Ông Khánh, bà Vân, ông Tuyến và cụ Lạc (đồng thừa kế) có biết và
được nhận tiền bán đất từ ông Quang mà không có ý kiến gì. Nay các ông, bà này
yêu cầu được chia thừa kế lại, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của họ là
chưa đủ căn cứ”. Ở đây, theo TANDTC, người giữ im lặng trong quá trình
giao kết hợp đồng biết hợp đồng và không có ý kiến gì thì có nhiều khả năng họ
đồng ý chấp nhận hợp đồng.
4)
Dựa vào lời khai của
bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng khi lời khai này cho thấy rằng
người giữ im lặng đã đồng ý hợp đồng.
VD: Theo Bản án số 228/DSPT ngày
02/02/2005 của TAND TP HCM, ông Xáng ký giấy chuyển quyền sử dụng đất cho vợ
chồng ông Đức, bà Hạnh nhưng không có chữ ký của bà Muống – vợ ông Xáng. Theo
TAND TP HCM: “Mặc dù bà Muống không ký tên trên hợp đồng
chuyển quyền sử dụng đất cho ông Đức, bà Hạnh nhưng tại tờ trình của ông Xáng,
bà Muống lập ngày 15/01/2002 và tại các biên bản lời khai của Tòa án lập vào
các ngày 20/11/2002, ngày 25/09/2003 đều thể hiện việc bà Muống cùng ông Xáng
đồng ý chuyển quyền sử dụng đất cho ông Đức, bà Hạnh, sau đó lại đổi ý. Do đó,
việc Tòa án xác định bà Muống phải liên đới cùng ông Xáng chịu trách nhiệm về
các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất đối với ông Đức, bà Hạnh là phù hợp với
quy định…”.
Như vậy, dựa vào những lời khai sau khi
hợp đồng được giao kết mà Tòa án xác định bên không ký vào hợp đồng đã chấp
nhận hợp đồng.
Tham khảo
tham luận của Tòa DS TANDTC tại hội nghị tổng kết ngành tòa án năm 2008: “Trên thực tế
có nhiều trường hợp người quản lý tài sản chung (một trong các đồng chủ sở hữu)
chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu chung nhưng không có đủ các đồng chủ sở hữu
tham gia ký kết văn bản chuyển nhượng hoặc sự đồng ý bằng văn bản của các chủ
sở hữu chung khác. Tuy nhiên, có căn cứ xác định là những chủ sở hữu chung này
đồng ý việc chuyển nhượng đó, sau này do giá trị tài sản tăng lên hoặc vì một
lý do nào đó, nên những chủ sở hữu chung này và cả người trực tiếp giao kết hợp
đồng chuyển nhượng tài sản đã lợi dụng việc khi chuyển nhượng tài sản không
được sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu chung khác để yêu cầu tuyên bố
giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp này, Tòa dân sự cho rằng cần phải xác định
đã có sự thống nhất ý chí của các đồng chủ sở hữu về việc chuyển nhượng nên hợp
đồng không vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí của các đồng chủ sở hữu.”[2]
5) Nếu đề nghị giao kết hợp đồng được đưa ra hoàn toàn vi
lợi ích của bên được đề nghị thì sự im lặng cũng được suy luận là chấp nhận
VD: Theo Bản án số 1171/2006/DS-PT ngày 16-11-2006 của
TAND TP.HCM, tại phần xét thấy, HĐXX đã nêu: “khi ông Tuấn đưa bản cam kết ngày
10/12/2005 cho bà Bách thì phía bà Bách, ông Truyền chấp nhận và không có phản
hồi vì quyền và nghĩa vụ dân sự của vợ chồng bà Bách, ông Truyền đối với ông
Tuấn trong việc xây dựng căn nhà 142A, tổ 195, đường Tân Sơn của bà Bách, ông
Truyền đã chấm dứt”; “hợp đồng tặng cho giữa ông Tuấn với vợ chồng bà Bách, ông
Truyền đã hoàn tất”. Tòa phúc thẩm đã theo hướng công nhận sự tồn tại của hợp
đồng (tặng cho) giữa ông Tuấn và bà Bách, ông Truyền. Tuy nhiên, các lập luận
của Tòa rất khó hiểu. Ở đây, Tòa án đã theo hướng im lặng chính là sự trả lời
chấp nhận, nhưng không có văn bản nào hiện nay ghi nhận im lặng trong giao kết
hợp đồng khi các bên không có thỏa thuận về vấn đề này và các bên cũng chưa có
thói quen về nội dung này.
Câu
6: Chị Linh có biết, có phản đối việc chuyển nhượng trên không?
Trong
bản án vẫn chưa xác định được chị Linh có biết về chuyển nhượng hay không. Bởi
trong các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có chữ kí
của anh Đạt.
Câu
7: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc được bình luận,
nếu chị Linh biết và không phản đối việc chuyển nhượng thì có
được coi là chị Linh đồng ý không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong
phần Xét thấy, theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, nếu chị Linh biết và
không phản đối việc thế chấp thì phải coi chị Linh cũng đồng ý việc chuyển
nhượng, điều này được thể hiện ở đoạn: “…Tuy nhiên, khối tài sản anh
Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh
Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có
chữ ký của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh có biết việc chuyển
nhượng hay không? Nếu chị Linh biết mà không phản đối thì phải coi chị Linh
cũng đồng ý việc chuyển nhượng. Nếu chị Linh không biết và không đồng ý chuyển
nhượng thì cần phải căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết…
Câu 8: Hướng giải quyết trên của Tòa dân
sự đã có tiền lệ chưa? Cho biết tiền lệ mà anh/chị biết.
Hướng
giải quyết của Tòa dân sự đã có tiền lệ.Theo Quyết định số 27/2003/HĐTP-DS ngày
26/08/2003 của HĐTP TANDTC: “Năm 1991 và 1993, ông Quang đã bán ao, đất
vườn. Ông Khánh, bà Vân, ông Tuyến và cụ Lạc (đồng thừa kế) có biết và được
nhận tiền bán đất từ ông Quang mà không có ý kiến gì. Nay các ông, bà này yêu
cầu được chia thừa kế lại, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của họ là
chưa đủ căn cứ”. Ở đây, theo TANDTC, người giữ im lặng trong quá trình
giao kết hợp đồng biết hợp đồng và không có ý kiến gì thì có nhiều khả năng họ
đồng ý chấp nhận hợp đồng
Câu 9: Suy
nghĩ của anh/chị về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng ở Việt Nam.
v Quan điểm 1:
−
Vai
trò của im lặng trong giao kết hợp đồng ở Việt Nam không đủ để suy luận đồng ý
hay không đồng ý chấp nhận hợp đồng.
−
Theo quy định tại khoản 2 Điều 393 BLDS 2015, chỉ
thừa nhận một trường hợp im lặng nghĩa là đồng ý giao kết hợp đồng khi đáp ứng
được điều kiện là có sự thỏa thuận giữa người đề nghị và người được đề
nghị “im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” hợp đồng
hoặc một thói quen đã hình thành từ rất lâu giữa 2 bên. Đây là quy định duy
nhất của Bộ luật Dân sự về giá trị của im lặng trong quá trình giao kết hợp
đồng. Trong thực tế không phải lúc nào các bên cũng thoả thuận im lặng có giá
trị như chấp nhận hợp đồng mà phần lớn giao dịch đều không có thoả thuận như
vậy và các cơ quan tư pháp cũng không định nghĩa rõ thế nào là “thói quen” được
xác hình thành giữa 2 bên. Nên trong thực tiễn pháp lý Việt Nam, sự im lặng
không đủ để khẳng định việc chấp nhận hợp đồng.
v Quan điểm 2 (Hà):
− Im lặng trên mặt lý thuyết tuy là không thể hiện bất cứ điều
gì (trừ khi có thỏa thuận), nhưng trên mặt thực tiễn, sự im lặng là sự trả lời
chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn do các bên thỏa thuận. Theo
quan điểm cá nhân, em cho rằng im lặng không thể hiện sự chấp thuận hay từ chối
thỏa thuận dưới bất cứ trường hợp nào. Việc chấp thuận hay từ chối giao
kết hợp đồng sẽ thể hiện đầy đủ ý chí của bên nhận được lời đề nghị khi và chỉ
khi bên nhận được thể hiện ý chí của mình thông qua một hành vi biểu hiện cụ thể.
Hơn nữa việc suy đoán im lặng là trả lời giao kết hợp đồng sẽ gây sự rủi ro
pháp lí cho bê đề nghị cũng như bên được đề nghị. Với những trường hợp không trả
lời được do trở ngại khách quan hay do năng lực của chủ thể khiến việc trả lời
không thực hiện được thì việc bên còn lại suy đoán im lặng của bên kia là sự chấp
thuận và thực hiện hợp đồng sẽ gặp nhiều rủi ro pháp lí. Hơn thế nữa, bên đề
nghị được quy định trong đề nghị xem xét việc bên kia im lặng khi hết thời hạn
xác đồng ý là vi phạm đến quyền tự do hợp đồng. Các chủ thể có quyền tự do giao
kết hợp đồng và có quyền tự do không giao kết. Hơn nữa, bên nhận lời đề nghị
không có nghĩa vụ phải đáp trả lại lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị.
Việc quy định sự im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời
hạn do các bên thỏa thuận vô hình trung khiến quyền tự do hợp đồng không được
thực hiện một cách trọn vẹn.
Vấn đề 2: Đối
tượng của hợp đồng không thể thực hiện được
Câu 1: Những
thay đổi và suy nghĩ của anh về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BDLDS 2005 về
vấn đề đang được nghiên cứu.
v Điểm
khác biệt giữa Điều 411 BLDS 2005 và Điều 408 BLDS 2015: Thay cụm từ “ngay từ
khi kí kết” bằng “ngay từ khi giao kết” và bỏ cụm từ “vì lý do khách quan”.
− BLDS
2005 sử dụng cụm từ “kể từ khi ký kết” nên phạm vi điều chỉnh hẹp vì ký kết chỉ
phù hợp với hợp đồng được xác lập bằng văn bản. Quy định này được áp dụng cho hợp
đồng lập bằng văn bản hay hình thức khác nên cụm từ trên đã được thay đổi bằng
“kể từ khi giao kết” trong BLDS 2005
− BLDS
2015 đã khắc phục được sự cứng nhắc của BLDS 2005 khi chỉ quan tâm đến nguyên
nhân khách quan gây ra việc trong hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được
mà bỏ qua nguyên nhân chủ quan.Từ đó, tạo điều kiện cho hợp đồng có thể diễn ra
suôn sẻ, nhanh chóng, thuận lợi hơn.Trong thực tiễn đã xuất hiện nhiều vụ việc
xuất hiện đối tượng trong hợp đồng không thể thực hiện ngay từ đầu xuất phát từ
nguyên nhân chủ quan.
Ví dụ: Theo Bản án số
04/2007/KDTM-ST của TAND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
“các bên thừa nhận rằng, thực tế thị trường có rất nhiều loại máy đào
mang nhãn hiệu Hitachi. Thế nhưng, tại văn bản của hợp đồng nêu trên, các bên
không thể hiện một cách rõ rảng về đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao.
Cụ thể, tại văn bản của hợp đồng, các bên không thể hiện về việc bên bán phải
giao cho bên mua chiếc máy đào nhãn hiệu Hitachi được sản xuất năm nào; không
thể hiện về quy cách, chất lượng (…) Thấy rằng, các bên không chứng minh được
là đã có thỏa thuận rõ ràng, chi tiết với nhau về đối tượng của hợp đồng là tài
sản phải giao, giữa các bên lại không có thói quen được thiết lập. Chính vì vậy,
HĐXX xác định, đây là một hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được (…)”[3]
v BLDS
2015 vẫn chưa khắc phục những điểm còn hạn chế của BLDS 2005 là:
− Việc
cho phép áp dụng Khoản 1 vào trường hợp được nêu vào Khoản 3 là một sự sửa đổi
có thể gây tranh cãi. Việc Toà tuyên bố một hợp đồng bị vô hiệu vì có một đối
tượng không thể thực hiện được mặc dù trong hợp đồng vẫn còn những đối tượng có
thực thực hiện được, vẫn có hiệu lực thì có thể gây thiệt hại đến lợi ích của 1
trong 2 bên. Nên xem xét hợp đồng vô hiệu từng phần theo Điều 130 BLDS 2015. Việc
hợp đồng vô hiệu toàn phần chỉ nên được đưa ra xem xét khi đối tượng không thể
thực hiện trong hợp đồng là yếu tố cơ bản và quan trọng của hợp đồng, cân bằng
quyền và lợi ích của cả 2 bên.
− Trong
những hợp đồng mà Toà xét thấy có (những) đối tượng không thể thực hiện được
thường có đặt cọc. Vấn đề đặt ra là cần xử lý số tiền cọc này như thế nào.
− Hiện
nay chưa qui định nào về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Theo ý kiến của PGS.TS Đỗ Văn Đại – Trưởng khoa Luật Dân sự ĐH Luật TP.HCM: “Do
lý do hợp đồng trong trường hợp này rất đặc biệt là “ đối tượng không thể thực
hiện” nên sẽ thuyết phục hơn khi chúng ta theo hướng thời hiệu yêu cầu Tòa án
tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không bị giới hạn”[4]. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, một
số chuyên gia lại có ý kiến cho rằng: “ngoài những trường hợp đã quy định trên
thì còn những loại hợp đồng vô hiệu khác không có quy định thời hiệu cụ thể, cần
áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện chung của Bộ luật tố tụng dân sự” [5]
Câu 2: Một
bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 408 BLDS 2015
không?
v Dưới
góc độ văn bản:
− Trong
hợp đồng này, việc hai bên không nêu rõ số hiệu máy cũng như tình trạng của máy
dẫn đến việc không thể thống nhất về máy phải giao là do lỗi “chủ quan” của cả
hai bên. Trong khi trên thị trường có rất nhiều loại máy đào hiệu Hitachi, bên
bán phải cung cấp rõ năm sản xuất, quy cách, chất lượng, công suất, số khung, số
máy cho bên mua.
− Đây
là việc mà bên bán “phải biết” theo quy đinh tại Điều 34 Luật thương mại 2005:
“(1) Bên
bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất
lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng; (2) Trường
hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên
quan theo quy định của Luật này”.
Như vậy, nhìn từ góc độ văn bản thì
có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 408 BLDS.
v Dưới
góc độ thực tiễn xét xử:
− Hiện
nay, “hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được” là một khái niệm rất khó
hiểu. Bởi vì thông thường chúng ta nói “hợp đồng không thể thực hiện được” hay
“thực hiện hợp đồng” chứ không nói đến “thực hiện đối tượng của hợp đồng”. Và
thực tiễn cũng cho thấy, vì không có bất kỳ văn bản nào làm rõ khái niệm trên,
Tòa án đã áp dụng khá thoáng khái niệm “hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện
được”[6]. Tuy nhiên, trong một số vụ việc,
Tòa dân sự đã theo hướng nếu các bên không đạt được thỏa thuận về đối tượng của
hợp đồng thì hợp đồng vô hiệu.[7]
Vấn
đề 3: Xác lập hợp đồng giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản
v Đối với vụ việc thứ
nhất
Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?
ü Điều 124 BLDS 2015 quy
định:” 1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che
giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao
dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô
hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan;2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự
giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô
hiệu.”
−
Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn, giả tạo trong xác lập
giao dịch là việc thực hiện giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên
ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao
dịch.
−
Có hai loại giao dịch dân sự giả tạo:
o
Thứ nhất, giao dịch được xác lập để che giấu một giao dịch
dân sự khác. Ví dụ: A bán cho B một căn nhà, các bên thỏa thuận giá trị của
ngôi nhà là 1.750.000.000 đồng. Nhưng hai bên đã lập một hợp đồng trong đó chỉ
ghi giá trị của ngôi nhà là 750.000.000 đồng để gian lận việc nộp phí trước bạ
sang tên. Như vậy, hợp đồng ghi giá trị ngôi nhà là 750.000.000 đồng bị coi là
hợp đồng giả tạo.
o
Thứ hai, giao dịch được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với
người thứ ba. Ví dụ: C nợ A tiền với cam kết chuyển nhượng nhà đất để trả nợ
cho A , nhưng để tẩu tán tài sản C thỏa thuận với D ký hợp đồng giả bán ngôi
nhà của C cho D để tránh bị kê biên tài sản.
Trong
cả hai trường hợp trên đều có đặc điểm chung là có sự thông đồng, nhất trí của
cả hai bên tham gia giao dịch dân sự nhằm tạo ra sự nhận thức sai lầm bên ngoài
sự việc. Như vậy, trong giao dịch dân sự giả tạo, pháp luật một mặt quy định
loại hành vi này là vô hiệu đối với các bên, nhưng một mặt vẫn bảo vệ quyền lợi
của người thứ ba khi người đó không biết việc thể hiện ý chí đích thực của giao
dịch giả tạo đó.
Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có
giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục
đích gì?
−
Đoạn cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng của
Quyết định là:
“Xét thấy, sau khi lập giấy thoả thuận mua bán đất ngày 27/11/2013 các
bên chưa đến CQNN có thẩm quyền làm thủ tục theo quy định. Theo đơn khởi kiện
ban đầu nguyên đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng sau đó nguyên đơn
thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng ngày
23/11/2013 giữa nguyên đơn và bà Trang là vô hiệu vì đây là giao dịch giả tạo
che dấu cho việc vay mượn và buộc bà Trang trả lại cho nguyên đơn và bà Trang
là vô hiệu vì đây là giao dịch che dấu việc cho vay mượn và buộc bà Trang trả
lại cho nguyên đơn số tiền đã nhận là 95.000.000 đồng.
−
Các bên xác lập giao dịch có giả tạo nhằm mục đích che giấu
việc vay mượn.
Câu 3: Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm đối
với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu?
Hướng giải quyết của
Tòa giám đốc thẩm đối với: Giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu còn giao dịch dân
sự bị che dấu vẫn có hiệu lực. “Đối chiếu với quy định trên với
trường hợp giữa nguyên đơn với bà Trang thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sự
dụng đất được xác lập ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bà Trang là vô hiệu do
giả tạo và giao dịch vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng có hiệu lực”.
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của
Tòa giám đốc thẩm về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu?
Hướng giải quyết trên
của Tòa giám đốc thẩm về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu là hoàn
toàn hợp lý theo quy định tại Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015. Cụ thể, theo
bản án số 06/2017/DS-ST, hai bên đều thừa nhận là giao dịch chuyển nhượng quyền
sử dụng đất là giao dịch giả tạo để che dấu cho hợp đồng vay tiền giữa bà Thúy
và bà Trang. Do đó, có cơ sở xác nhận rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
là hợp đồng giả tạo và tuyên bố vô hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã
nhận.
v Đối với vụ việc thứ 2
Câu 5: Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ
chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa
vụ với bà Thu?
Tòa án xác định giao
dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh
thực hiện nghĩa vụ với bà Thu vì: “Quá trình giải quyết vụ án thì vợ chồng
bà Anh thừa nhận còn nợ của bà Thu 3,1 tỷ đồng, đồng thời vợ chồng bà Anh cam
kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) để trả nợ cho bà Thu, nhưng vợ
chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà làm thủ tục chuyển nhượng
nhà đất trên cho anh là vợ chồng ông Vượng. Thỏa thuận chuyển nhượng giữa vợ
chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá thực tế nhà
đất là gần 5,6 tỷ đồng, nhưng hai bên thỏa thuận chuyển nhượng chỉ với giá 680
triệu đồng và thực tế các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng.”
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết
trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?
Theo nhóm em, Tòa án
xác định như vậy là hợp lý. Bởi vì, theo các thông tin trong bản án thì hợp
đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông Vượng thực chất là hợp đồng giả
tạo. Vợ chồng bà Anh đã tiến hành chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông Vượng
với giá là 680 triệu đồng, trong khi giá trị thực tế của nhà đất là 5,6 tỉ
đồng. Hợp đồng này của vợ chồng bà Anh đã cho thấy tính không thực tế của việc
chuyển nhượng vì theo lẽ thông thường thì không có ai lại đi thực hiện một hợp
đồng bất lợi cho mình như vậy, đặc biệt là trong trường hợp vợ chồng bà Anh
đang nợ tiền bà Thu và đã cam kết chuyển nhượng nhà đất trên cho bà Thu. Ngoài
ra, thủ tục chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng
chưa được hoàn tất. Như vậy, có đầy đủ căn cứ để áp dụng khoản 2 điều 124 vào
vụ kiện dân sự trên.
Câu 7: Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp
đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ.
Hệ quả của việc Toà án
xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ là buộc vợ chồng
bà Anh trả nợ cả gốc và lãi cho bà Thu, giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ
chồng ông Vương là vô hiệu và nhà đất của vợ chồng bà Anh bị phong tỏa để đảm
bảo nghĩa vụ của vợ chồng bà Anh đối với bà Thu.
VẤN ĐỀ 4: HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG
Câu 1: Hợp đồng trong 2 vụ việc trên có phải công
chứng, chứng thực không? Nêu CSPL cho câu trả lời.
Căn cứ vào K2 Đ119,
Đ502 BLDS 2015 và điểm a khoản 3 Đ167 Luật đất đai 2013 [8], hợp
đồng trong hai vụ việc trên phải công chứng, chứng thực.
Câu 2: Trong bản án số 03, Toà án công nhận hợp
đồng không được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án công nhận hợp
đồng không được công chứng, chứng thực có thuyết phục. Tuy nhiên, việc Tòa phúc
thẩm viện dẫn căn cứ pháp lý dựa trên BLDS 2015 đã vi phạm nghiêm trọng quy định
tại điểm c khoản 1 điều 688 BLDS 2015 quy định về điều khoản chuyển tiếp[9].
Thay vào đó, Tòa phúc thẩm hoàn toàn có thể căn cứ theo nghị quyết số
02/2004/HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán để giải quyết vụ việc, theo
đó “trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng vi phạm điều kiện về hình thức thì
“nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng
cây lâu năm, làm nhà kiên cố (…) và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng
không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyên xử lý vi phạm hành chính theo các quy định
của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Tòa án
công nhận hợp đồng” .
Câu 3: Việc Toà án xác định hợp đồng chuyển nhượng
vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
trong bản số 41 có thuyết phục không? Vì sao?
− Dựa
theo quy định tại khoản 1 Đ.136 và các quy định tại chế định thời hiệu được quy
định tại BLDS 2005, việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về hình
thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số
41 là hoàn toàn hợp lý, có căn cứ pháp luật.
−
Tuy nhiên, với sự
đổi mới tại BLDS 2015, cụ thể tại khoản 2 Đ.149 quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu
theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu
này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải
quyết vụ, việc.Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối
áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực
hiện nghĩa vụ.”, việc áp dụng trên của Tòa trên thực tế sẽ không còn phù hợp
với quy định hiện hành.
Câu 4: Theo BLDS, hệ quả pháp lý của
việc hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.
Căn cứ theo khoản 2
Đ.132, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng
trên vô hiệu về hình thức là hợp đồng có vi phạm quy định về hình thức vẫn có
hiệu lực. Đây là một điểm mới so với BLDS 2005.
Câu 5: Việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng
sau khi xác định có vi phạm qui định hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Toà án
tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thuyết phục không? Vì sao?
Theo như đã phân tích ở
những câu trên, việc Tòa án có thuyết phục. Tuy nhiên, với sự thay đổi của BLDS
2015, việc áp dụng quy định về thời hiệu không còn cơ sở pháp lý trên thực tế nữa.
Và cũng xin nói thêm, hướng giải quyết “công nhận hợp đồng vi phạm quy định về
hình thức” là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xét xử hiện nay. Vì suy cho cùng,
hợp đồng sinh ra không để bị tuyên bố vô hiệu mà là để thực hiện nhằm đem lại
cho các bên lợi ích mà các bên mong muốn khi xác lập hợp đồng. Do đó, cần hạn
chế tối đa việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu, nhất là khi hợp đồng chỉ vi phạm quy
định về hình thức.
[1] Đỗ Văn Đại, Bình
luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội
Luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ 2, có bổ sung), trang 370.
[2]
Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án, Nxb. Chính trị
Quốc Gia 2013, bản án số 15-17
[3] Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận
Bản án, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2017 (xuất bản lần thứ sáu, có sửa
chữa, bổ sung), trang 776.
[4] Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận
Bản án, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2017 (xuất bản lần thứ sáu, có sửa
chữa, bổ sung), trang 778.
[5]
Chu Xuân Minh, Tài liệu tập huấn về thi hành Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng
dân sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.155
[6] Ví
dụ, theo Bản án số 672/2007/DSPT ngày 25-6-2007 của TAND TP.HCM, Tòa án đã giải
quyết theo hướng “(…) Như vậy ông Hai, bà Nga không còn quyền tái định cư để
chuyển nhượng cho bà Trinh. Qua đó, xét thấy, vào thời điểm hai bên ký kết hợp
đồng sang nhượng quyền tái định cư, có đối tượng không thể thực hiện được. Vì vậy,
hợp đồng đã bị vô hiệu”
[7]
Theo Bản án Tòa dân sự đã theo hướng “Nếu bên nhận chuyển nhượng yêu cầu bên
chuyển nhượng phải giao thửa đất chuyển nhượng đúng như thỏa thuận trong hợp đồng
và theo trích lục bản đồ thửa đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
hoặc các bên không thỏa thuận được việc giao nhận thửa đất đúng như hiện trạng
trên thực địa và có tranh chấp, thì phải xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại
Điều 411 BLDS”
[8]
Điều 401, khoản 1,2 Điều 689 Bộ luật dân sự 2005 và điểm b khoản 1 Điều 127 Luật
đất đai 2003
[9]
Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước
ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật
dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ
luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết;
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^