Dân sự - Hợp Đồng - Buổi thảo luận thứ 4

Truy cập website mới để xem và tải nhiều tài liệu hơn nhé --> tuihocluat.com

 Đóng góp bởi: Linh Hoàng
BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ
 - BLDS 2015 đã có sự thay đổi về chế định liên quan đến tài sản có thể dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự so với BLDS 2005. BLDS 2015 (Điều 295) chỉ có 1 điều luật còn BLDS 2005 có tới 3 điều luật quy định về tài sản đảm bảo (Điều 320, 321, 322). Việc quy định của BLDS 2005 theo hướng liệt kê, do vậy BLDS 2005 “dường như cũng chỉ là sự lặp lại các loại tài sản theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật”[1] và sự liệt kê trên sẽ dẫn đến tình trạng quy định không đầy đủ. Do vậy, BLDS 2015 đã khắc phục được những nhược điểm này.  
 - Khoản 1, Điều 320, BLDS 2005 về Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự:
   1. Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch”.
   Và Khoản 1, Điều 295, BLDS 2015 về Tài sản đảm bảo:
   1. Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu”.
   Quy định tại BLDS 2015 đã bỏ đi quy định “được phép giao dịch” và chỉ quy định “trừ trường hợp cầm giữ, bảo lưu quyền tài sản”. Bởi lẽ, việc bỏ quy định này không phải là cho phép sử dụng tài sản không được phép giao dịch để đảm bảo mà là ở các quy định chung đã có hướng giải quyết. Trong Báo cáo tổng hợp của Bộ Tư pháp về ý kiến nhân dân với Dự thảo đã nêu “về nguyên tắc, tài sản được đem vào giao dịch phải phù hợp với quy định của pháp luật. nguyên tắc này áp dụng chung chung cho các loại giao dịch, trong đó có giao dịch đảm bảo”.
 - Tại Khoản 2, Điều 320, BLDS 2005 về Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự:
  2. Vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”.
   Và Khoản 3, Điều 295, BLDS 2015 về Tài sản đảm bảo:
3. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai”.
 Theo đó, BLDS 2005 có liệt kê những vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa cụ được xác lập hoặc giao dịch đảm bảo được giao kết. BLDS 2015 đã bỏ phần quy định này, tại Khoản 3, Điều 295 không làm rõ thế nào là tài sản hiện có hay tài sản hình thành trong tương lai. Việc thay đổi như vậy là tránh được sự khó hiểu và rườm rà vì đã có quy định trong phần Tài sản thuộc những vấn đề chung của BLDS (Như Điều 108, BLDS 2015).
 - BLDS 2015 cũng bổ sung thêm quy định về giá trị của tài sản đảm bảo tại Khoản 4, Điều 295:Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”. Quy định này tránh được thực tế là đôi khi có người yêu cầu giá trị tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
   Đoạn của bán án cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay:
    “Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo xác nhận: Có thế chấp một tờ giấy sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000đ cho ông Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh. Lãi suất 3%/tháng”.

Câu 3: Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?
 - Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản.
 - Căn cứ theo Khoản 1, Điều 105, BLDS 2015 (hoặc Điều 163, BLDS 2005) về Tài sản:
   1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
   Và Khoản 9, Điều 3, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP:
   9. Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”.
   Giấy chứng nhận sạp chỉ ghi nhận quyền được sử dụng sạp để bà Khen buôn bán tại chợ Tân Hương, chứ cái sạp đó không thuộc quyền sở hữu của bà Khen, bà chỉ được sử dụng chứ không có đặc quyền nào khác đối với cái sạp, cái sạp đó không phải tài sản của bà, nên giấy chứng nhận sử dung sạp không nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá tại Khoản 9, Điều 3, NĐ 163 và cũng không là vật, tiền và quyền tài sản, do vậy giấy chứng nhận sạp không là tài sản.

Câu 4: Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bào đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
  - Việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự không được tòa án chấp nhận.
- Đoạn của bản án cho câu trả lời:
“Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, nhưng giấy chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng kí sử dụng sạp, không phải quyền sở hữu, nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh”.

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lí của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ.
  Tòa án xét thấy, sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, nhưng giấy chứng nhận rạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng kí sử dụng sạp, không phải quyền sở hữu, nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lí mà để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh.
   Căn cứ vào Khoản 1, Điều 320, BLDS 2005 về Vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự:
   1. Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch”.
    Vậy, hướng giải quyết của Tòa án là hợp lí. Theo đó, tài sản cầm cố đó nếu không thuộc quyền sở hữu của bà Khen thì bà Khen có quyền sử dụng nó chứ không có quyền định đoạt nó trong giao dịch cầm cố sạp để trả nợ.

Câu 6: Trên cơ sở so sánh pháp luật, suy nghĩ của anh/chị về khả năng cho phép dùng giấy tờ liên quan đến tài sản để đảm bảo nghĩa vụ dân sự.
   Theo như quy định của BLDS 2015 thì trong các phương pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì chỉ có phương pháp thế chấp mới có khả năng dùng giấy tờ liên quan đến tài sản vì các biện pháp khác đều yêu cầu bên bảo đảm giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm và đối tượng bảo đảm của các biện pháp còn lại đều là tài sản hữu hình (tiền, giấy tờ có giá, vật).
   Theo nhóm em việc cho phép sử dụng giấy tờ liên quan đến tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cần được áp dụng thêm đối với biện pháp cầm giữ tài sản vì, thực ra cầm giữ giấy tờ liên quan đến tài sản mà giấy tờ đó có tính chất quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sở hữu và sử dụng của chủ tài sản. Thì việc cầm giữ giấy tờ này đã làm hạn chế các quyền của bên vi phạm và từ đó gây áp lực, buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên cầm giữ, như vậy mục đích cuối cùng của cầm giữ cũng đã thực hiện được. Ngoài ra, việc sử dụng giấy tờ liên quan đến tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cũng giống như sử dụng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ dân sự chỉ được áp dụng, khi tài sản đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên có nghĩa vụ, có như vậy thì lợi ích của bên có quyền mới được đảm bảo.

 Đoạn của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố:
 “Ngày 30/8/1995 vợ chồng ông Võ Văn ôn và Lê Thị Xanh cùng ông Nguyễn Văn Rảnh thoả thuận việc thực đất. Hai bên có lập “Giấy thực đất làm ruộng” với nội dung giống như việc cầm cố tài sản.
  Theo lời khai của nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận là cầm cố đất (BL số 08, 09, 10, 19, 20)”.

- Văn bản hiện hành cho phép quyền sử dụng đất để cầm cố.
- Căn cứ theo Khoản 2, Điều 322, BLDS 2005 về Quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự:
  2. Quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.
   Theo quy định trên thì BLDS 2005 đã cho phép sử dụng quyền sử dụng đât để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, do đó, quyền sử dụng đất có thể được cầm cố.

 - Trong Quyết định trên, Toà án chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố.
 - Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:
“Xét việc giao dịch thực đất nên trên là tương tự với giao dịch cầm cố tài sản, do đó phải áp dụng nguyên tắc tương tự để giải quyết. Về nội dung, thì giao dịch thực đất nên trên phù hợp với quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự (tại Điều 326, 327), do đó cần áp dụng các quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự để giải quyết mới bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên giao dịch”.

   Hướng giải quyết trên của Tòa án là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 326 BLDS 2005:
   Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thục hiện nghĩa vụ dân sự”.
    Ở đây, theo BLDS cầm cố không nhất thiết phải là “động sản” nữa. Do đó, bất động sản cũng có thể được sử dụng để cầm cố. Khoản 2 Điều 322 BLDS 2005 quy định:
   2. Quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.
    Như vậy, chúng ta có thể hoàn toàn sử dụng quyền sử dụng đất để cầm cố theo quy định của BLDS là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, bởi:
  - Thứ nhất, về mặt pháp lí: Có 2 loại bất động sản quan trọng nhất là nhà ở và quyền sử dụng đất. Nếu như không cho phép cầm cố quyền sử dụng đất thì việc BLDS cho phép cầm cố bất động sản không còn ý nghĩa đối với họ vì các quy định về nhà ở cũng không liệt kê khả năng cầm cố nhà ở. Khi không chấp nhận cầm cố quyền sử dụng đất thì hiển nhiên không chấp nhận cầm cố nhà ở. Hơn nữa luật đất đai không hạn chế quyền của người sử dụng đất. Tư duy nhà làm luật hiện nay người dân được làm những gì pháp luật không cấm nên không có quy định nào cấm cầm cố quyền sử dụng đất nên người dân được quyền cầm cố.
  - Thứ hai, về mặt xã hội: Ngày nay, việc cầm cố quyền sử dụng không gây phương hại cho ai thì không nên hạn chế. Nếu hạn chế thì không thuyết phục vì pháp luật chỉ hạn chế hay cấm một loại giao dịch dân sự khi giao dịch này xâm hại hay có nguy cơ xâm hại đến chính mục đích của một bên tham gia giao dịch hay đến lợi ích của người khác, lợi ích xã hội. Từ xa xưa ông cha ta đã cầm cố và pháp luật đã cho phép cầm cố và đây là truyền thống cần duy trì và phát triển (thời Pháp thuộc có tiểm cầm đồ Vạn Bảo lớn nhất miền Bắc)
  - Thứ ba, về mặt kinh tế: Việc cho phép cầm cố quyền sử dụng đất tức là cho phép loại tài sản này có thêm cơ hội lưu thông trong nền kinh tế. Khi người có quyền sử dụng đất không có nhu cầu sử dụng hay sử dụng không hiệu quả nhưng cần vốn để đầu tư vào việc khác và có chủ thể khác có điều kiện khai thác quyề sử dụng đất tốt hơn thì việc hạn chế cầm cố sẽ làm giảm hiệu quả khai thác, sử dụng đất đai và hiệu quả sử dụng vốn.
  Như vậy, cầm cố quyền sử dụng đất là cầm cố tài sản vì quyền sử dụng đất là một loại tài sản.

Đoạn của Bản án số 04 cho thấy người nhận thế chấp quyền sử dụng đất là cá nhân:
“Bà Phạm Thị Ngọc Hồng trình bày: Tôi đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Long để nhờ bà Long vay 50.000.000 đồng của ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Vĩnh Long, chứ tôi không có thế chấp, vay tiền của bà Long”.
  “Pháp luật chưa cho phép các cá nhân thế chấp quyền sử dụng đất giữa các cá nhân với nhau. Do vậy, việc bà Phạm Thị Ngọc Hồng giao các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Kim Long để vay tiền là không đúng quy định của pháp luật,nên bị coi là vô hiệu theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật Dân sự”.

Có quy định cho phép cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Căn cứ theo Khoản 1, Điều 342, BLDS 2005 quy định:
  “1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”.
  Thế chấp là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia. Bên nhận bảo đảm ở đây có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
   Và Khoản 7, Điều 113, Luật đất đai năm 2003 quy định:
   Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
    7. Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh”.
   Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê được thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được cho phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh.

Đoạn của Bản án số 04 cho thấy Toà án không chấp nhận cho cá nhân nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ:
“Pháp luật chưa cho phép thế chấp quyền sử dụng đất giữa các cá nhân với nhau. Do vậy, việc bà Phạm Thị Ngọc Hồng giao các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Kim Long để vay tiền là không đúng quy định của pháp luật, nên bị coi là vô hiệu theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự”.

  Hướng giải quyết của Toà án là hợp lí.
Căn cứ theo Khoản 1, Điều 342, BLDS 2005 quy định:
  “1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”.
  Thế chấp là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia. Bên nhận bảo đảm ở đây có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
  Việc thế chấp trong bản án 04 dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ trả tiền mà bà Hồng vay của ông Long. Do vậy, không thể áp dụng quy định Khoản 7, Điều 113, Luật đất đai 2003 (Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê được thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được cho phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh) để điều chỉnh.
   Như vậy việc Tòa án tuyên giao dịch dân dự trên bị vô hiệu là đúng và trong bản án trên, việc bà Hồng giao các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Long để vay tiền là không phù hợp với quy định của pháp luật.

  Điều 323, BLDS 2005 về Đăng ký giao dịch bảo đảm:
 1. Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này.
  2. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định.
  3. Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký”.
  Điều 298, BLDS 2015 về Đăng ký biện pháp bảo đảm:
 1. Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
      Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định.
  2. Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
 3. Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm”.
BLDS 2005 đề cập đến vấn đề đăng kí giao dịch bảo đảm, còn BLDS 2015 thì quy định đăng kí biện pháp bảo đảm. Bản chất của hai thuật ngữ “giao dịch bảo đảm” và “biện pháp bảo đảm” có sự khác nhau nhất định. Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm. Do đó, việc sử dụng thuật ngữ đăng kí biện pháp đảm bảo sẽ phù hợp hơn[2].
Ngoài ra, BLDS 2015 còn quy định: Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định. Việc sử dụng cụm từ “luật quy định” thay thế cho cụm từ “pháp luật có quy định” đã thể hiện sự thay đổi trong tư duy lập pháp, phù hợp với quy định của Hiến pháp và các quy định khác có liên quan. Bởi lẽ, chỉ khi luật có quy định đăng kí là điều kiện có hiệu lực của biện pháp bảo đảm thì các bên mới phải tuân thủ quy định đó[3].
Đoạn 2 khoản 1 nêu trên kế thừa quy định trong Khoản 2, BLDS 2005 và thay thế từ “pháp luật” bằng từ “luật”.

 - Hợp đồng thế chấp số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 trong Quyết định trên thuộc trường hợp phải đăng kí.
 - Căn cứ theo Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP về đăng kí giao dịch đảm bảo:
   1. Những trường hợp sau đây phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm:
     a) Việc cầm cố, thế chấp tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu;
     b) Việc cầm cố, thế chấp tài sản không thuộc quy định tại điểm a, khoản 1 Điều này nhưng các bên thoả thuận bên cầm cố, bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản;
     c) Việc cầm cố, thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ;
     d) Văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm”.
   Như vậy, hợp đồng số 03.00148/HĐTC là hợp đồng thế chấp tài sản do vậy thuộc trường hợp phải đăng kí.

 - Hợp đồng thế chấp trên chưa được đăng kí.
 - Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:
   Hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 đã vi phạm về hình thức, không được đăng kí giao dịch đảm bảo nên không phát sinh hiệu lực. Ngân hàng phải tiến hành lại thủ tục đăng kí giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp luật”.

 - Hướng giải quyết của Toà án cấp phúc thẩm đối với hợp đồng thế chấp nêu trên là hợp đồng này không phát sinh hiệu lực.
 - Toà án cấp phúc thẩm lại giải quyết như vậy vì hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 đã vi phạm về hình thức, không được đăng kí giao dịch đảm bảo nên không phát sinh hiệu lực.

  Theo Hội đồng thẩm phán, trong trường hợp biện pháp bảo đảm phải đăng ký nhưng không được đăng ký thì biện pháp bảo đảm này không có giá trị pháp lý đối với các bên trong giao dịch bảo đảm. Vì tuy Hội đồng thẩm phán cho rằng “hợp đồng thế chấp này là hợp pháp, có giá trị pháp lý” nhưng lại giải thích theo hướng vì tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC đồng thời cũng là tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02.00034/HĐTC mà Hợp đồng thế chấp số 02.00034/HĐTC có hiệu lực nên mới suy ra rằng Hợp đồng số 03.00148/HĐTC có hiệu lực. Nghĩa là Hội đồng thẩm phán đã cho rằng, một khi biện pháp bảo đảm không được đăng ký thì hợp đồng đó sẽ không có hiệu lực, đồng nghĩa với việc biện pháp bảo đảm này sẽ không có giá trị pháp lý đối với các bên trong giao dịch bảo đảm.

  Hướng xử lí trên của Hội đồng thẩm phán là hợp lý. Nhưng hướng giải thích để giải quyết vấn đề này của Hội đồng thẩm phán là chưa thuyết phục, vì nếu tài sản để bảo đảm trong Hợp đồng số 03.00148/HĐTC không đồng thời là tài sản bảo đảm theo Hợp đồng số 02.00034/HĐTC thì liệu Hội đồng thẩm phán có công nhận hiệu lực của hợp đồng số 03.00148/HĐTC không? Thiết nghĩ, để công nhận hiệu lực Hợp đồng số 03.00148/HĐTC tòa án cần phải đưa thêm căn cứ khác.
   Đó là, về bản chất thì mục đích chính của đăng ký là công khai thông tin biện pháp bảo đảm với người ngoài, từ đó làm hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Còn giữa các bên, họ đã ký kết hợp đồng về tài sản này nên các bên hiển nhiên biết về giao dịch của họ. Nên dù không đăng ký thì vẫn có sự ràng buộc giữa các bên. Mặc khác trong vụ này cũng không xuất hiện bên thứ ba, nên việc xác định quyền ưu tiên đối với tài sản bảo đảm cũng không được đặt ra. Do đó, sự công nhận hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp này để bảo đảm quyền lợi đối với bên có quyền là vô cùng cần thiết.
   Hơn nữa, theo Khoản 3, Điều 325, BLDS 2005, thì người có quyền có biện pháp bảo đảm không được đăng ký vẫn được thanh toán theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm. Điều này cho thấy các nhà lập pháp đã ngầm ghi nhận giá trị pháp lí của biện pháp bảo đảm không được đăng kí[4].
   BLDS 2005 không quy định việc cho 2 bên có thỏa thuận khác là một thiếu sót. Tuy nhiên, bản án này được xem là án lệ để giải quyết các vụ án tương tự khi các bên không đăng ký các biện pháp bảo đảm mà tự thỏa thuận theo sự tự nguyện của 2 bên nếu các điều lệ đó không trái với quy định của pháp luật.
   Trong bản án này Hội đồng thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận hợp đồng thế chấp có hiệu lưc vì chúng được ký tên sự tự nguyện cùa 2 bên. Vì thế khi công ty Ngọc Quang không thanh toán nợ, thì Viettinbank có quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp và quy định của pháp luật.
   Tuy nhiên hướng giải quyết này lại không thỏa đáng lắm nếu trường hợp công ty Ngọc Quang có thêm một hay nhiều khoản nợ khác với cá nhân hay pháp nhân khác. Biện pháp bảo đảm phải đăng ký để giúp giải quyết thứ tự ưu tiên thanh toán khi xảy ra tranh chấp. Hiệu lực bảo đăng ký còn có hiệu lực đối với người thứ ba nhằm không xảy ra hợp đồng vô hiệu

 BLDS 2015 đã có hướng giải quyết cho hoàn cảnh như vụ án trên.
 Căn cứ vào Khoản 1, Điều 298, BLDS 2015 về Đăng kí biện pháp bảo đảm:
  “1. Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định”.
 Theo quy định trên, nếu hợp đồng thế chấp 03.00148/HĐTC là loại hợp đồng cần phải được đăng kí theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP về đăng kí giao dịch đảm bảo:
   1. Những trường hợp sau đây phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm:
     a) Việc cầm cố, thế chấp tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu;
     b) Việc cầm cố, thế chấp tài sản không thuộc quy định tại điểm a, khoản 1 Điều này nhưng các bên thoả thuận bên cầm cố, bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản;
     c) Việc cầm cố, thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ;
     d) Văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm”.
  Do vậy, căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Điều 298, BLDS 2015 thì hợp đồng thế chấp trên chỉ có hiệu lực khi được đăng kí nên hợp đồng thế chấp 03.00148/HĐTC sẽ không có hiệu lực trên thực tế do chưa được đăng kí.
Vấn đề 3: Đặt cọc.
Câu 1: Khác biệt cơ bản giữa đặt cọc và cầm cố, đặt cọc và thế chấp.
+ Tài sản dùng để đảm bảo trong đặt cọc là “tiền hoặc kim quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác”, do vậy tài sản dùng cho đặt cọc là một hiện vật, không thể là quyền tài sản. Trong khi đó, về việc cầm cố, pháp luật không giới hạn về loại tài sản được sử dụng để đảm bảo.
+ Cầm cố chỉ được sử dụng để “đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự”, trong khi đó đặt cọc thường được sử dụng để “đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự”[5].
+ Việc xử lý tài sản đặt cọc không cần phải qua bán đấu giá, trong khi đó việc xử lý tài sản cầm cố phải có tiến hành theo thủ tục bán đấu giá nếu không có thoả thuận khác.
  + Đặt cọc là biện pháp đảm bảo mang tính hai chiều (bất cứ bên nào vi phạm đều bị phạt cọc), trong khi đó cầm cố chỉ mang tính bảo đảm một chiều (bên cầm cố bảo đảm trước bên nhận cầm cố)[6].

Tiêu chí
Đặt cọc
Thế chấp
Khái niệm
Là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.
Là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia (bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.
Chủ thể
Bên đặt cọc là bên dùng tiền hoặc vật có tài sản khác của mình giao cho bên kia giữ một thời gian nhất định để đảm bảo giao kết và thực hiện hợp đồng và bên nhận đặt cọc là bên nhận tiền hoặc tài sản khác.
Bên thế chấp, bên nhận thế chấp và có thể có thêm bên thứ ba giữ tài sản thế chấp.
Tài sản
Tiền, vật có giá trị hoặc các vật thông thường khác mà bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc.
Động sản, bất động sản.
Tài sản được hình thành trong tương lai.
Tài sản đang cho thuê cũng như hoa lợi, lợi tức thu được từ việc cho thuê tài sản (nếu pháp luật có quy định và các bên thỏa thuận).
Tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng có thể được thế chấp.
Hình thức
Không cần lập bằng văn bản nhưng phải nêu rõ số tiền, vật giao cho bên nhận đặt cọc
Phải lập thành văn bản. trong trường hợp pháp luật quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng, chứng thực (đăng kí giao dịch bảo đảm).
Câu 2: Thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về đặt cọc.
Tại Khoản 1, Điều 358, BLDS 2005 về Đặt cọc:
  1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.
     Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản”.
    Và Khoản 1, Điều 328, BLDS 2015 về Đặt cọc:
    1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng”.
    Theo đó, BLDS 2005 yêu cầu việc đặt cọc phải được lập bằng văn bản. Ở đây, BLDS 2005 không rõ yêu cầu văn bản là yêu cầu về việc chứng cứ của đặt cọc hay là yêu cầu để đặt cọc có hiệu lực. Từ những bất cập của thực tiễn trước yêu cầu văn bản của BLDS 2005 cùng với xu hướng không đặt nặng vấn đề hình thức của giao dịch thì BLDS 2015 đã bỏ đi phần quy định này.
Câu 3: Theo BLDS 2005, khi nào bên đặt cọc mất cọc, bên nhận cọc bị phạt cọc?
 Căn cứ vào Khoản 2, Điều 358, BLDS 2005 về Đặt cọc:
 2. Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
 Theo BLDS 2005:
  - Bên đặt cọc bị mất cọc nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng và tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
 - Bên đặt cọc bị phạt cọc nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng và bên đặt cọc phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Câu 4: Theo Quyết định được bình luận, khi nào bên nhận cọc (bà Hạnh) bị phạt cọc?
 - Theo Quyết định, bên nhận cọc (bà Hạnh) bị phạt cọc khi do lỗi chủ quan của bà Hạnh làm cho chậm trễ việc hoàn tất các thủ tục để được sang tên quyền sở hữu.
 - Đoạn của Quyết định cho thấy:
   “Nếu có căn cứ xác định do bà Hạnh chậm trễ hoàn tất các thủ tục để được sang tên quyền sở hữu thì lỗi hoàn toàn thuộc về bà Hạnh, và bà Hạnh mới phải chịu phạt tiền cọc”.

Câu 5: Theo Quyết định được bình luận, khi nào bên nhận cọc không bị phạt cọc?
 - Theo Quyết định được bình luận, bên nhận cọc không bị phạt cọc khi do lỗi của cơ quan thi hành án dân chậm trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà Hạnh khiến bà Hạnh không thể thực hiện đúng cam kết với ông Lộc.
 - Đoạn của quyết định cho thấy:
   “Nếu có căn cứ xác định cơ quan thi hành án dân sự chậm trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà Hạnh thì lỗi dẫn tới việc bà Hạnh không thể thực hiện đúng cam kết với ông Lộc thuộc về khách quan”.
Câu 6: Hệ quả của việc bên nhận cọc không bị phạt cọc?
  Người nhận không phải hoàn trả tài sản đã nhận giống hậu quả của hợp đồng đặt cọc vô hiệu vì đặt cọc vô hiệu thì các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo điều 137 BLDS 2005.
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Toà giám đốc thẩm về xử lý tài sản đặt cọc.
   Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm về xử lý tài sản đặt cọc là hợp lý vì tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh, làm rõ lí do bà Hạnh chậm trễ hoàn tất các thủ tục để được sang tên quyền sở hữu là lỗi chủ quan hoàn toàn thuộc về bà Hạnh hay là lỗi khách quan thuộc về cơ quan thi hành án dân sự chậm trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà Hạnh. Nếu nó là lỗi chủ quan thuộc về bà Hạnh thì bên nhận cọc (tức bên bà Hạnh) sẽ phải trả lại tiền cọc cho bên cọc (tức bên ông Lộc) và bị phạt cọc một số tiền tương đương căn cứ theo Khoản 2, Điều 304, BLDS 205, còn nếu nó là lỗi khách quan thuộc về cơ quan thi hành án dân sự thì bên nhận cọc (tức bên bà Hạnh) chỉ phải trả lại tiền cọc cùng với lãi suất theo mức lãi suất của ngân hàng cho bên đặt cọc (tức bên ông Lộc).
Vấn đề 4: Bảo lãnh.
Câu 1: Những đặc trưng của bảo lãnh.
  - Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
 - Phạm vi bảo lãnh: Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.
 - Về hình thức: Về nguyên tắc chung bảo lãnh phải được lập thành văn bản. Nếu pháp luật có quy định, văn bản bảo lãnh phải có công chứng, chứng thực.
 - Bảo lãnh là biện pháp bổ trợ cho một nghĩa vụ chính. Do đó, khi chưa chứng minh được nghĩa vụ chính không được thực hiện đầy đủ thì người bảo lãnh chưa phải thực hiện trách nhiệm bảo lãnh.
 - Chế định bảo lãnh luôn làm phát sinh hai mối quan hệ:
  + Mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh được quy định tại Điều 339, BLDS 2015, theo đó, điều luật này tập trung chủ yếu vào việc bảo vệ quyền lợi của bên bảo lãnh khi so sánh với bên nhận bảo lãnh vì bên bảo lãnh luôn tồn tại nhiều rủi ro hơn. Như vậy một khi nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh cần phải thực hiện chưa đến hạn, tức là chưa đến thời điểm “đòi” thì bên bảo lãnh không có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết bảo lãnh. Đồng thời BLDS cũng đề xuất các trường hợp mà bên bảo lãnh không cần phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh tại Điều 314, BLDS 2015.
  + Mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh được quy định tại Điều 337, Điều 340, BLDS 2015. Có thể thấy một khi bên bảo lãnh đã dùng những tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, thì họ có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trở lại đối với mình.

 - Tại Điều 361, BLDS 2005 về Bảo lãnh:
   Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.
   Và Khoản 1, Điều 335, BLDS 2015 về Bảo lãnh:
   1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
 So với BLDS 2005 thì BLDS 2015 có bổ sung cụm từ “thực hiện nghĩa vụ” sau từ “thời hạn” để làm rõ nghĩa hơn. Sự thay đổi này không dẫn thay đổi về nội dung mà chỉ mâng tính kỹ thuật để điều luật rõ nghĩa hơn[7].
 - Tại Điều 363, BLDS 2005 về Phạm vi bảo lãnh:
   Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.
    Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
   Và Điều 336, BLDS 2015 về Phạm vi bảo lãnh.
   BLDS 2015 đã bổ sung thêm một số nội dung mới so với BLDS 2005.
   + Quy định thêm “lãi trên số tiền chậm trả” vào nghĩa vụ bảo lãnh theo Khoản 2, Điều 336, BLDS 2015. Việc bổ sung này vào phạm vi bảo lãnh là phù hợp với thực tế và tương thích với các quy định có liên quan. Bởi lẽ, khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ[8].
   + Quy định thêm tại Khoản 4, Điều 336, BLDS 2015 trường hợp người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân chấm dứt. Việc quy định này phù hợp với các vụ việc trên thực tế,
 - BLDS 2015 bổ sung thêm quy định về mối quan hệ giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh tại Khoản 1, Điều 339, BLDS 2015 (so với Điều 366, BLDS 2005):
   1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ”.
   Đây là quy định khẳng định rõ ràng nghĩa vụ thực hiện việc bảo lãnh của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh và thực chất chỉ là phần thiếp theo của quy định về khái niệm bảo lãnh được quy định tại Điều 335[9].
 - Điều 342, BLDS 2015 đã sử dụng tiêu đề là “Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh” thay vì tiêu đề là “Xử lí tài sản của bên bảo lãnh” tại Điều 369, BLDS 2005. Tại Khoản 2, Điều 342, BLDS 2015 đã quy định “thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại” thay cho quy định “đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh” tại Điều 369, BLDS 2005. Việc thay đổi trên đã thê hiện rõ ràng và phù hợp hơn quyền của bên nhận bảo lãnh và tăng cường trách nhiệm của bên bảo lãnh.

  Đoạn cho thấy Toà án xác định quan hệ giữa ông Miễn, bà Cà với Quỹ tín dụng là quan hệ bảo lãnh:
  “Trong trường hợp xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số 01534 ngày 22/9/2006 giữa các bên có hiệu lực thì phải tuyên theo đúng quy định tại Khoản 1, Điều 5 và Khoản 1, Điều 7 của Hợp đồng thế chấp; Điều 361 Bộ luật Dân sự là khi Chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân không trả nợ hoặc trả không đủ thì ông Miễn, bà Cà phải trả thay; nếu ông Miễn, bà Cà không trả nợ hoặc trả không đủ thì mới xử lí tài sản thế chấp để thu hồi nợ”.

  Việc xác định trên của hội đồng thẩm phán là hợp lí và đúng quy định của pháp luật vì ông Miễn và bà Cà đã lấy tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay của chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số 01534 ngày 22-9-2006 giữa Qũy tín dụng (bên nhận thế chấp) với ông Miễn và bà Cà (bên thế chấp) và bà Tỉnh - chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân (bên vay vốn). Hợp đồng thế chấp đã được chứng thực và đăng kí giao dịch bảo đảm. Nên khi doanh nghiệp tư nhân không trả hoặc trả không đủ thì ông Miễn, bà Cà trả thay và nếu ông Miễn và bà Cà không trả hoặc trả không đủ thì mới xử lí thế chấp để thu hồi nợ.

 - Theo Toà án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà được sử dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân là bà Đỗ Thị Tỉnh.
 - Vì ngày 26/9/2006, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương - Chi nhánh Đồng Nai ký Hợp đồng tín dụng số TC066/02/HĐTD cho Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân vay 900.000.000 đồng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay này là quyền sử dụng 20.408 m2 đất do vợ chồng ông Miễn bà Cà đem thế châp cho Quỹ tín dụng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Chủ Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân. Như vậy vợ chồng ông Miễn bà Cà đã đứng ra bảo lãnh cho bà Tỉnh. Vì vậy ông Miễn và bà Cà phải có trách nhiệm đối với nghĩa vụ đó.

Đoạn cho thấy Toà án địa phương đã theo hướng người bảo lãnh và người được bảo lãnh liên đới thực hiện nghĩa vụ cho người có quyền:
“Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 376/2009/DS-ST ngày 28-9-2009, Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai quyết định:
  Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Vũ Thị Hồng Nhung:
 Bà Nguyễn Thị Thắng phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bà Nguyễn Thị Mát, ông Nguyễn Văn Tam trả cho bà Vũ Thị Hồng Nhung số tiền 607.106.000 đồng (trong đó, nợ gốc 500.000.000 đồng, lãi suất 107.106.000 đồng).
  ….
  Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 24/2010/DS-PT ngày 29-01-2010, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
  Bác kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng Nhung và bị đơn bà Nguyễn Thị Thắng. Giữ nguyên bản án sơ thẩm”.

Hướng liên đới trên không được Toà giám đốc thẩm chấp nhận.
Đoạn của quyết định cho thấy:
“Toà án các cấp chưa thu thập, xác định rõ khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của bà Mát, nhưng Toà án cấp sơ thẩm (Toà án nhân dân huyện Trảng Bom) đã buộc bà Thắng cùng liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự cùng bà Mát là chưa chính xác. Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm hướng dẫn đương sự lựa chọn có thể khởi kiện bà Mát hoặc bà Thắng là không đúng quy định của pháp luật”.

Căn cứ theo Điều 361, BLDS 2005 về Bảo lãnh:
“Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.
Theo quy định trên, vì các bên cũng không có thoả thuận khác về việc bảo lãnh của bà Thắng nên bà Thắng chỉ có nghĩa vụ trả nợ thay cho bà Mát khi bà Mát không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ của mình đối với và Nhung. các bên cũng không có thoả thuận khác về việc bảo lãnh của bà Thắng.
  Việc Toà án địa phương chưa thu thập, xác minh rõ ràng về khả năng nghĩa vụ dân sự của bà Mát như thế nào nhưng lại buộc bà Thắng cùng liên đới thực hiện nghĩa vụ cho bà Mát là chưa đảm bảo được quyền lợi của bà Thắng. Do vậy, việc Toà giám đốc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm để yêu cầu làm rõ lại những yếu tố xác minh về khả năng trả nợ của bà Mát là hợp lí và đúng theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của bên bảo lãnh (bà Thắng) và bên nhận bảo lãnh (bà Nhung).

Thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh là khi người thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩ vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Đó là khi nghĩa vụ bảo lãnh được phát sinh.
Thời điểm thực hiện nghia vụ bảo lãnh là thời điểm bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, hoặc bên có nghĩa vụ hết thời hạn mà không thực hiện nghĩa vụ của mình với bên có quyền.





Câu 10: Theo BLDS 2005, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?
Căn cứ vào Điều 361, BLDS 2005 về Bảo lãnh:
  Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.
Theo quy định trên thì người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh hoặc các bên có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

  Theo Quyết định, người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bà Mát (bên được bảo lãnh) không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc chỉ có thể thực hiện được một phần, thì phần không thực hiện được thì bà Thắng (bên bảo lãnh) mới phải có trách nhiệm thực hiện thay.
  Đoạn của quyết định cho thấy:
“Như vậy, căn cứ vào các tài liệu nêu trên có cơ sở xác định bà Mát là người vay tiền của bà Nhung còn bà Thắng và ông Ân (Nhơn) chỉ là người bảo lãnh cho bà Mát nên trước hết cần xác định bà Mát phải là người thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình đối với bà Nhung; nếu bà Mát không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc chỉ có thể thực hiện được một phần, thì phần không thực hiện được bà Thắng và ông Ân mới phải có trách nhiệm thực hiện thay theo quy định tại Điều 361, 363, và Điều 365 Bộ luật dân sự”.

Tại Quyết định số 968/2011 DS-GDT ngày 27-12-2011 về Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh, Tòa án theo hướng cần phải xác định người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình, nếu người đó không có khả năng thanh toán hoặc chỉ được một phần mới tính đến trách nhiệm của người bảo lãnh. Trên thực tế đã có quyết định theo hướng giải quyết trên.
Trong Quyết định số 01/2010/DS-GĐT ngày 06-01-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Chị Nguyễn Thị Bích Thảo đã vay của ông Lê Văn Sang 60 triệu đồng và đã giao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đối với nhà số 50/3 đường Xuân An, phường 3, thành phố Đà Lạt do ông Nguyên Văn Lộc và bà Trần Thị Phục (bố, mẹ chị Thảo) đứng tên cho ông Sang để làm tin. Các bên lập hợp đồng thế chấp căn nhà trên (trị giá 100 triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho chị Thảo, hợp đồng có công chứng hợp pháp vào ngày 09/11/1996, các có mặt và không phản đối. Sau đó, chị Thảo không thực hiện không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Sang. Bên cho vay đã khởi kiện yêu cầu buộc bà Phục, ông Lộc (với tư cách bị đơn) thanh toán khoản nợ. Tuy nhiên, trong vụ án này, chị Thảo là người vay tiền của ông Sang, còn ông Lộc, bà Phục là những người dùng tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay của chị Thảo. Do vậy, ông Sang phải khởi kiện yêu cầu chị Thảo trả nợ, nếu chị Thảo không trả được nợ gốc và lãi thì ông Lộc, bà Phục có trách nhiệm trả thay; nếu ông Lộc, bà Phục không trả được thì bà Tý có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá tài sản bảo lãnh để thu hồi nợ.
Câu 13: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà giám đốc thẩm.
  Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi lẽ, việc lập giấy biên nhận có sự bảo lãnh của ông Ân và bà Thắng đã ngầm hàm chứa nội dung là sẽ thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ, như là một căn cứ cho rằng hai ông bà sẽ có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nhung thay cho bà Mát trong trường hợp bà Mát không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán của mình.
  Nghĩa vụ bảo lãnh sinh ra từ cam kết của người thứ ba nhưng đây là nghĩa vụ mà việc thực hiện “có điều kiện”. Bởi lẽ, BLDS đã quy định người bảo lãnh sẽ thực hiện thay nếu người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đủ và nội dung này cho thấy nghĩa vụ bảo lãnh sinh ra từ cam kết của người bảo lãnh nhưng chưa chắc sẽ phải thực hiện và việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh còn phụ thuộc vào nghĩa vụ được bảo lãnh có được thực hiện đầy đủ hay không[10].
   Hướng giải quyết trên thỏa đáng cho người bảo lãnh và người được bảo lãnh. Vì khi giải quyết vụ án ta phải xem xét thực kỹ khả năng thực hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh để trách việc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình và đẩy trách nhiệm đó cho người bảo lãnh. Việc làm này giúp bảo quyền quyền và lợi ích hợp pháp cho người bảo lãnh.




[1] Viên Thế Giang, Thực trạng pháp luật về tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và hướng sửa đổi, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 04/2015, tr.36.
[2] Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam 2016 tr.311.
[3] Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam 2016 tr.311.
[4] Đỗ Văn Đại, Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự-Bản án và bình luận án, Nxb. CTQG 2014, tr.536.
[5] Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức 2013, tr. 349.
[6] Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức 2013, tr. 349.
[7]. Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai), tr.337.
[8] Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai), tr.338.
[9] Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai), tr.341.
[10] Đỗ Văn Đại, Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự-Bản án và bình luận án, Nxb. CTQG, tr.460.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu ver 2

Luật sư - Dân sự - Ho so 9 - YD và Thu

Hình sự- Bài tập - CÁC TỘI PHẠM VỀ QUẢN LÝ