Dân sự - Hợp Đồng - Buổi thảo luận thứ 5
Truy cập website mới để xem và tải nhiều tài liệu hơn nhé --> tuihocluat.com
NỘI DUNG VỤ
ÁN:
NHẬN ĐỊNH CỦA
TÒA ÁN:
QUYẾT ĐỊNH:
Xử:
Bùi Thị Dậu
Đóng góp bởi: Linh Hoàng
TRÁCH NHIỆM
DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP ĐỒNG.
a)
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
theo pháp luật Việt Nam:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự
phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên, do đó bên có hành vi vi phạm
nghĩa vụ trong hợp đồng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại mà mình
đã gây ra cho phía bên kia tương ứng với mức độ lỗi của mình[1]. Trong
pháp luật Việt Nam, các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng:
· Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
(Điều 351 BLDS 2005).
· Trách nhiệm dân sự do vi phạm do
không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Điều 356, BLDS 2015).
· Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện
nghĩa vụ trả tiền (Điều 357 BLDS 2015)
· Trách nhiệm dân sự do không thực hiện
nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc (Điều 358 BLDS 2015).
· Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận
việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 359 BLDS 2015).
· Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
vi phạm nghĩa vụ (Điều 360 BLDS 2015).
b)
Những thay đổi của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về Căn cứ phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng:
Tại Điều 307 BLDS 2005 đề cập đến trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, quy định vừa nêu
không đưa ra căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa
vụ, mà chỉ đề cập đến hai loại trách nhiệm. Đó là trách nhiệm bồi thường về vật
chất và trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần. Nói cách khác, BLDS 2005,
chưa rõ về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại[2].
Từ đó, BLDS 2015 đã bổ sung thêm Điều 360 với tiêu đề “Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ”. Hướng sửa đổi nêu trên là thuyết phục và phù hợp
với thực tiễn để giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại.
Toà án đã buộc Bitexco bồi thường cho bà Bình
những khoản thiệt hại:
· Bồi thường giá trị căn hộ theo giá Hội đồng định giá đã định.
Đoạn của bản án liên quan đến việc bồi thường này:
“Mặt khác, phía Công ty Bitexco,
bà Bình và Ngân hàng ngoại thương Việt Nam cũng thống nhất huỷ hợp đồng nên việc
huỷ hợp đồng mua bán căn hộ AE305 là phù hợp và như đã phân tích tại phần trên
bà Bình không vi phạm nghĩa vụ thanh toán, việc buộc Công ty Bitexco phải bồi
thường giá trị căn hộ theo giá của Hội đồng định giá là cũng đảm bảo quyền lợi
của bà Bình nên có căn cứ được chấp nhận”.
· Bồi thường tiền thuê nhà.
Đoạn của bản án liên quan đến việc
bồi thường này:
“Tuy nhiên, như phân tích ở
trên, việc bà Bình đi
thuê nhà ở là có thực và đây là thiệt hại thực tế, bà Bình không có vi phạm
nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu của Bình buộc Công ty Bitexco phải bồi thường
khoản tiền mà bà Bình đã thanh toán tiền thuê nhà 22.000 Đô la Mỹ tương đương
418.000.000 đồng (Tỷ giá đô la Mỹ ngày 27/04/2010 là 19.000đ/01USD), trả ngay
sau khi án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có căn cứ được chấp nhận”.
Hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý.
Thứ nhất, Bixtexco yêu cầu huỷ hợp đồng mua bán căn hộ AE 305 là không có
căn cứ xác đáng vì theo như nhận định và căn cứ đưa ra trước Tòa, bà Bình không
có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Thứ hai là “phía công ty Bitexco, bà Bình và Ngân hàng ngoại thương Việt
Nam cùng thống nhất hủy hợp đồng”.
Việc Tòa án buộc công ty Bitexco phải bồi thường giá trị căn hộ theo giá
của Hội đồng định giá đã giúp bà Bình đảm bảo quyền lợi của mình trong tranh chấp,
việc hủy hợp đồng mua bán là phù hợp nên khoản bồi thường là hợp lý căn cứ theo
Khoản 2 Điều 307, BLDS 2005.
Đối với khoản thiệt hại về tiền thuê nhà, hướng giải quyết của Tòa án
cũng là hợp lý. Dù khoản thiệt hại này xuất hiện trước khi có hành vi hủy hợp đồng
và theo người bảo vệ cho nguyên đơn thì hợp đồng thuê không được chứng thực và
giá thuê bà Bình không thông báo cho Bitexco tuy nhiên trên bà Bình có cung cấp
hợp đồng thuê nhà và biên nhận tiền thuê nhà nên đây là những thiệt hại thực tế
mà bà Bình chịu tổn thất, là khoản thu nhập bị giảm sút của bà Bình do hợp đồng
không tiếp tục được thực hiện nên khoản tiền phải được đền bù.
Câu 4: Đoạn nào cho thấy bà Bình có yêu cầu
bồi thường tổn thất về tinh thần?
Đoạn của bản án cho thấy bà Bình có yêu cầu bồi
thường tổn thát về tinh thần:
“Theo đơn yêu cầu phản tố của bà Bình ngày
18/11/2008 thì ngoài những yêu cầu đã xem xét ở trên bà Bình còn yêu cầu bồi
thường về vật chất trong căn hộ AE305: do nước trào ngược dơ bẩn làm hư hỏng một
số tài sản với trị giá là 5.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại tinh thần do
chất lượng căn hộ không bảo đảm gây ảnh hưởng về tâm lý là 16.000.000 đồng”.
Thực ra, tổn thất về tinh thần hoàn toàn có
thể tồn tại xuất phát từ việc không thực hiện đúng hợp đồng. Bộ LDS 2015 quy định
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. (Điều 360), có thể suy ra là bao
gồm cả thiệt hại về tinh thần. Quy định này áp dụng cho nghĩa vụ dân sự nói
chung nên cũng được áp dụng cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.
Theo Khoản 1 Điều 361 cũng qui định:
Theo Khoản 1 Điều 361 cũng qui định:
” 1. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt
hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.”
Tại Khoản 2, Điều 303, Luật Thương mại 2005
về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “2. Có thiệt hại thực
tế”. Theo đó phải có “thiệt hại thực tế”, tức là có thể không chỉ có thiệt
hại vật chất mà còn có cả thiệt hại tinh thần.
Như vậy, nhìn từ góc độ văn bản, tổn thất về
tinh thần có tồn tại trong lĩnh vực hợp đồng cũng được bồi thường và thực tiễn
cùng theo hướng này.
Câu 6: BLDS 2005 và BLDS 2015 có cho phép yêu cầu bồi
thường tổn thất về tinh thần phát sinh do không thực hiện đúng hợp đồng không?
Nêu rõ cơ sở pháp lí khi trả lời.
- Căn cứ vào Khoản 1 và Khoản 3,
Điều 307, BLDS 2005 về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
“1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn
thất về tinh thần.
3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người
khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người
đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải
bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại”.
Với quy định trên của BLDS
2005, tổn thất về tinh thần được bồi thường và quy định này áp dụng cho nghĩa vụ
dân sự nói chung nên cũng được áp dụng cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.
- Căn cứ vào Khoản 1 và Khoản 3,
Điều 361, BLDS 2015 về Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ:
“1. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm
thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
3.
Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể”.
BLDS 2015 đã quy định cụ thể tại
Điều 361, thiệt hại về tinh thần do vi phạm nghĩa vụ thì được bồi thường.
Vấn đề 2: Phạt vi phạm hợp đồng.
- Về mức phạt vi phạm, tại Khoản 2, Điều 422,
BLDS 2005 quy định:
“2. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận”.
Và tại Khoản 2, Điều 418, BLDS 2015 quy định:
“2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định
khác”.
BLDS 2015 có bổ sung quy định về mức phạt
vi phạm trong trường hợp “luật liên quan có quy định” ngoài trường hợp các bên
thoả thuận so với BLDS 2005. BLDS 2015 bổ sung quy định trên bởi lẽ hiện nay vẫn
có luật quy định khác về mức phạt như Luật xây dựng (12%), Luật thương mại (8%)
có quy định về mức phạt tối đa (các bên không được hoàn toàn tự do thoả thuận).
- Tại Khoản 3, Điều 422, BLDS 2005:
“3. Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi
phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại
hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có
thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận
về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm”.
Và Khoản 3, Điều 418, BLDS 2015:
“3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên
vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại
hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi
phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi
thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”.
BLDS 2015 đã bỏ đi quy định “nếu không có
thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt
hại” của BLDS 2005, quy định này được bỏ đi vì đây là vấn đề bồi thường thiệt hại
và đã có quy định khác điều chỉnh (Điều 13 và Điều 360, BLDS 2015).
Về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường
thiệt hại, BLDS 2015 vẫn theo hướng nếu không có thoả thuận cụ thể về việc kết
hợp hai chế tài này thì thoả thuận phạt vi phạm loại trừ trách nhiệm bồi thường
thiệt hai (có thoả thuận về phạt vi phạm mà không có thoả thuận về sự kết hợp
thì chỉ áp dụng phạt vi phạm)[3].
- Về đối tượng thực hiện: là khoản tiền buộc
phải nộp cho một bên.
- Về hình thức: đều được lập thành văn bản.
- Về hậu quả pháp lý: bên vi phạm bị mất một
khoản tiền (mức phạt vi phạm hoặc phạt cọc), và không căn cứ vào thiệt hại thực
tế.
- Khoản tiền trả trước 30% được Toà án xác định
là tiền đặt tiền cọc.
- Đoạn trong bản án cho thấy:
“Xét thấy, theo khoản 3 Điều 4
Hợp đồng kinh tế số 01-10/TL-TV ngày 01/10/2010 các bên đã thoả thuận: Ngay
sau khi kí hợp đồng, bên mua (Công ty Tân Việt) phải thanh toán trước cho bên
bán (Công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, 40% giá trị
đơn hàng thanh toán ngay sau khi bên Công ty Tường Long giao hàng hoàn tất, 30%
còn lại sẽ thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày thanh toán cuối cùng. Do
vậy số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng) được
xác định là tiền đặt cọc”.
Cách giải quyết của Tòa án là chưa hợp lí và thiếu thống nhất trong cách
giải quyết.
Về khoản tiền trả trước 30%, Tòa án đã xác định đây là tiền đặt cọc dựa
trên khoản 7 Điều 292 Luật Thương mại và Điều 358 BLDS 2005. Khoản tiền này
dùng để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, sau đó Tòa án lại nhận
định rằng phía bị đơn đã không từ chối thực hiện hợp đồng mà hai bên đã đi vào
thực hiện hợp đồng cho nên khoản tiền 30% được xác định là khoản tiền dùng để
thanh toán đợt giao hàng lần thứ nhất. Theo hai bên thoả thuận thì sau khi kí hợp đồng, Công ty Tân Việt (bên mua) phải
thanh toán trước cho Công ty Tường Long (bên bán) 30% giá trị đơn hàng gọi là
tiền đặt cọc, do đó theo quy định tại Khoản 2, Điều 358, BLDS 2005 số tiền 30%
trên thuộc về bên bán khi bên mua từ chối thực hiện hợp đồng nhưng trên thực tế
thì hai bên đã đi vào thực hiện hợp đồng nên khoản tiền trên phải được trả lại
cho bên mua (Công ty Tân Việt) chứ không được dùng vào việc thanh toán cho giá
trị đơn hàng thứ nhất.
Do đó, cách giải quyết nhiều mâu thuẫn như trên của Tòa án đã khiến quyền
và lợi ích họp pháp của nguyên đơn không được đảm bảo.
Trong Quyết định của Trọng tài, mức
phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn ở mức 8% giá trị hợp đồng theo Điều 301, Luật
Thương mại 2005, do vậy mức phạt thoả thuận của hai bên 30% giá trị hợp đồng là
không phù hợp và điều kiện này vô hiệu phần mức phạt Hợp đồng cao hơn 8% giá trị
hợp đồng.
Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài
còn nhận định thêm nếu các bên đã có thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại thực
tế tối đa là 30% tổng giá trị hợp đồng thì có thể xem xét bồi thường thiệt hại
thực tế cho Nguyên đơn, tổng mức bồi thường và phạt vi phạm không cao quá 30%
giá trị hợp đồng (theo Điều 301, Luật Thương mại 2005).
So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định thuyết phục.
Trước hết, Tòa đã dựa vào Điều 301 Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định
về “mức phạt vi phạm”. Vì mức thỏa thuận cao hơn nên Tòa lấy mức phạt 8%
giá trị của hợp đồng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho bên vi phạm. Mặc dù
Khoản 2, Điều 422, BLDS 2005 có quy định: “Mức phạt vi phạm do các bên
quy định” nhưng mức phạt như trong thoả thuận là quá cao. Quy định về mức
phạt trong BLDS để cho thấy các bên được tự do về mức phạt còn việc viện dẫn
Luật thương mại cho thấy các bên bị giới hạn trong việc định đoạt mức phạt. Do
vậy, Luật Thương mại sẽ được ưu tiên hơn.
Vậy, theo Luật Thương mại thì mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định
là đúng pháp luật, thuyết phục. Tuy nhiên, căn cứ theo Khoản 2, Điều 422, BLDS
2005 quy định Thực hiện hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm như sau: “Mức phạt
vi phạm do các bên thỏa thuận”; thì Quyết định này lại trái với quy định
trong pháp luật dân sự.
- Căn cứ vào Khoản 3, Điều 422, BLDS 2005 về
Thực hiện hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm:
“3. …
Trong trường hợp các bên không có thoả
thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt
vi phạm”.
BLDS 2005 theo hướng phạt vi phạm hợp đồng
không được kết hợp với bồi thường thiệt hại nếu các bên không có thoả thuận.
- Căn cứ vào Khoản 2, Điều 307, Luật thương mại
2005 về Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại:
“1. Trường hợp các bên không có thỏa thuận
phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ
trường hợp Luật này có quy định khác”.
Luật thương mại 2005 cũng theo hướng nếu các
bên không có thoả thuận thì phạt vi phạm không được kết hợp với bồi thường thiệt
hại, trừ trường hợp có quy định khác.
- Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm được
kết hợp với bồi thường thiệt hại.
- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:
“Tuy nhiên, Điều 301 Luật Thương mại cũng
quy định ngoài mức phạt như trên, bên bị thiệt hại có quyền đòi bồi thường thiệt
hại thực tế. Do các bên đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại tối đa là
30% tổng giá trị Hợp đồng, nên việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ tạo bất
ngờ cho Bị đơn. HĐTT cho rằng có thể xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên
đơn, song tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao
quá 30% giá trị hợp đồng”.
Câu 9: Điểm giống và
khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp
đồng.
- Điểm giống nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường
thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng:
+ Là biện pháp chế tài mà luật dân sự quy định để áp dụng cho các trường
hợp vi phạm hợp đồng.
+ Cơ sở để áp dụng 2 biện pháp này là phải có hành vi vi phạm hợp đồng
trên thực tế và phải có lỗi của bên vi phạm.
+ Mục đích chung của việc quy định cũng như áp dụng biện pháp này là nhằm
ngăn ngừa sự vi phạm hợp đồng.
- Điểm khác
nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng:
|
Phạt vi phạm hợp đồng
|
Bồi thường thiệt hại do không thực
hiện đúng hợp đồng
|
Cơ sở để áp dụng
|
· Phải có sự thỏa thuận của các chủ
thể về việc áp dụng biện pháp phạt hợp đồng.
· Không cần có thiệt hại do hành vi
vi phạm cũng có thể áp dụng
|
· Không cần có sự thỏa thuận.
· Biện pháp này sẽ được áp dụng khi
có hành vi vi phạm gây ra thiệt hại cho chủ thể bị vi phạm trên thực tế.
|
Mục đích chủ yếu
|
Ngăn ngừa
vi phạm.
|
Khắc phục hậu
quả thiệt hại do vi phạm.
|
Mức độ thiệt hại về vật chất của người bị áp dụng
|
Do thỏa thuận
của các bên. Tối đa không quá 5% - 8% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm.
|
Tùy theo mức
độ thiệt hại. Thiệt hại được tính bao gồm cả thiệt hại thực tế và trực tiếp
do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra, những khoản lợi mà người bị vi phạm đáng
lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
|
- Theo Khoản 3, Điều 422, BLDS 2005 về Thực hiện
hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm:
“3. Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi
phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại
hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có
thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt
hại.”.
Như vậy, BLDS 2005 không giới hạn về khoản
tiền do kết hợp phạt vi phạm hợp đồng với bồi thường thiệt hại, mà do các bên
thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật.
- Theo Khoản 2, Điều 307, Luật Thương mại 2005
về Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại:
“2. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi
phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi
thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.
Ta thấy Luật Thương mại có quy định mức vi
phạm do các bên thỏa thuận, nghĩa là pháp luật đã giới hạn mức phạt không được
vượt quá mức mà các bên thỏa thuận.
- Trong Quyết định trọng tài, khoản tiền do kết
hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có bị giới hạn.
- Trong Phán Quyết Trọng tài có đoạn như sau:
“Tuy nhiên, Điều 301 luật thương mại
cũng quy định ngoài mức phạt như trên, bên thiệt hại có quyền đòi bồi thường
thiệt hại thực tế. Do các bên đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại tối
đa là 30% tổng giá trị hợp đồng, nên việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ tạo
ra bất ngờ cho bị đơn. HĐTT cho rằng có thể xét bồi thường thiệt hại thực tế
cho Nguyên đơn, song tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ
không được cao quá 30% giá trị hợp đồng”.
- Suy nghĩ về giải pháp trong Quyết định về vấn
đề này:
Hướng giải quyết của Tòa khá thuyết phục, đảm
bảo quyền lợi của bên bị vi phạm, phù hợp với các quy định tại Khoản 2, Điều
307, Luật Thương mại 2005 và cả quy định Khoản 3, Điều 422, BLDS 2005. Bởi lẽ, các
bên đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại tối đa là 30% tổng giá trị hợp
đồng là do sự tự nguyện của các bên và việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ
tạo ra bất ngờ cho bên chịu phạt. Do vậy, tòa vừa tôn trọng quyền tự do
quyết định trong giao kết hợp đồng, quyền thỏa thuận vi phạm hợp đồng và cả
mức giới hạn việc phạt vi phạm để đảm bảo quyền lợi của cả bên bị phạt vi phạm
và bên còn lại. Việc Tòa đã xem xét để đúng với quy định của pháp luật và đúng
với thực tiễn.
Việc Toà án giảm mức phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam thường
được thông qua việc giới hạn mức phạt vi phạm khi các bên kí hợp đồng. Đây là một
“hạn chế tự do ý chí của các bên trong việc thoả thuận kí kết hợp đồng”[4]. Ngày
nay, việc giới hạn mức phạt vi phạm này được thể hiện thông qua quy định tại Điều
301, Luật Thương mại 2005:
“Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với
nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị
phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật
này”.
Tuy nhiên, việc áp dụng quy định trên thì lại gây xung đột với pháp luật
dân sự. Cụ thể tại Khoản 2, Điều 422, BLDS 2005 có quy định:
“2. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận”.
Việc viện dẫn một lúc hai văn bản về mức vi phạm này rất khó hiểu nhưng
chúng ta có giải thích như sau: Việc viện dẫn Bộ luật dân sự để cho thấy các
bên được tự do về mức phạt còn việc viện dẫn Luật Thương mại để cho thấy các
bên bị giới hạn trong định đoạt mức phạt[5].
Biện pháp phạt vi phạm được thiết lập vì lợi ích của bên bị vi phạm do đó
bên bị vi phạm lựa chọn hay kết hợp với bồi thường thiệt hại để đảm bảo
quyền lợi của mình. Tuy nhiên, mức phạt đó phải không quá mức thỏa thuận.
Việc Tòa án áp dụng hai chế tài này là phù hợp, quyền lợi bên bị vi phạm được bảo
vệ. Song, vấn đề đặt ra là nên áp dụng văn bản nào để thuyết phục, đảm bảo quyền
lợi cho các đương sự, Tòa đã áp dung văn bản là Luật thương mại. Do vậy, hướng
giải quyết của Tòa là phù hợp vì không những đảm bảo quyền lời của bên bị vi phạm
mà đảm bảo quyền của bên vi pham.
Câu 1: Những điều kiện để một sự kiện được coi là bất khả kháng? Và
cho biết các bên có thể thoả thuận với nhau về trường hợp có sự kiện bất khả
kháng không? Nêu rõ cơ sở khi trả lời.
- Khoản 1, Điều 156, BLDS 2015 có quy định về
sự kiện bất khả kháng:
“1. …
Sự kiện bất khả
kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không
thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho
phép”.
Vậy có thể thấy những điều kiện
để một sự kiện được coi là bất khả kháng như sau:
+ Thứ nhất, đây phải là “sự kiện xảy ra một
cách khách quan”. Bộ luật dân sự không cho biết cần hiểu yếu tố khách quan như
thế nào nhưng thông thường yếu tố khách quan này được đánh giá trong mối quan hệ
với bên thực hiện hợp đồng. Để được coi là sự kiện xảy ra một cách khách quan
thì sự kiện này phải vượt qua sự kiểm soát của bên phải thực hiện hợp đồng và
như vậy đây có thể là sự kiện tự nhiên như thiên tai nhưng cũng có thể do con
người gây ra như hành động của người thứ ba.
+ Thứ hai, đây phải là sự kiện “không thể lường
trước được”. Về thời điểm không lường trước được, Bộ luật dân sự chúng ta không
rõ nhưng một số hệ thống pháp luật như Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng theo
hướng sự lường trước được hay không lường trước được xác định ở “thời điểm giao
kết hợp đồng”
+ Thứ ba, sự kiện xảy ra “không thể khắc phục
được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”.
- Các bên có thể thoả thuận với
nhau về trường hợp có sự kiện bất khả kháng.
Căn cứ vào Khoản 2, Điều 351,
BLDS 2015 về Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự:
“2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không
thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu
trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác”.
Nếu sự thoả thuận của các bên
không đúng với 3 yếu tố của sự kiện bất khả kháng được qui định trong Luật thì
có bị coi là vi phạm pháp luật không?
Ta hiểu theo 2 ý:
- Các bên thường thoả thuận với nhau các trường hợp được
coi là bất khả kháng với mục đích nhằm
xác định trách nhiệm bồi thường, cụ thể hoá các trường hợp mà Luật chưa nêu.
- Các bên còn có thể thoả thuận loại trừ trường hợp bất
khả kháng để bắt buộc phải bồi thường (không trái Luật)
- Hệ lý trong trường hợp hợp đồng không
thể thực hiện do sự kiện bất khả kháng trong BLDS:
Căn cứ vào Khoản 2, Điều 302,
BLDS 2005 về Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự:
“2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không
thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu
trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác”.
Theo quy định trên thì trường hợp hợp đồng không thể thực hiện
do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp
các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Căn cứ vào Khoản 3, Điều 546,
BLDS 2005 về Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại:
“3. Trong trường hợp bất khả kháng dẫn đến
tài sản vận chuyển bị mất mát, hư hỏng hoặc bị huỷ hoại trong quá trình vận
chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ
trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Trong quy định về bồi thường
thiệt hại trong hợp đồng vận chuyển nếu trường hợp hợp đồng không thể thực hiện do sự kiện bất khả
kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp các bên có thoả
thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Hệ lý trong trường hợp hợp đồng không thể thực
hiện do sự kiện bất khả kháng trong Luật Thương mại:
Căn cứ theo Điểm b, Khoản 1, Điều
294, Luật Thương mại 2005 về Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm:
“1. Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách
nhiệm trong các trường hợp sau đây:
b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng;”
Theo Luật thương mại thì trong trường hợp hợp đồng không thể thực hiện
do sự kiện bất khả kháng thì bên vi phạm được miễn trách nhiệm bồi thường.
Câu 3: Số hàng trên có bị hư hỏng do sự kiện
bất khả kháng không? Phân tích các điều kiện hình thành sự kiện bất khả kháng với
tình huống trên.
- Số hàng trên có bị hư hỏng có thể do sự kiện
bất khả kháng.
- Phân tích các điều kiện hình thành sự kiện bất
khả kháng với tình huống trên:
+ Điều kiện thứ nhất: Tàu bị gió nhấn chìm dẫn
đến hỏng toàn bộ tài sản ta thấy “gió thổi” ở đây là một sự kiện xảy ra một
cách khách quan.
+ Điều kiện thứ hai: Đây là sự kiện “không thể
lường trước được” do thế giới khách quan tác đông diễn ra ngoài ý chí chủ quan
của con người.
+ Điều kiện thứ ba: Tàu chìm làm hàng hư hỏng
toàn bộ có thật sự “Không thể khắc phục được” tuy bản án cũng không
nói rõ. Nếu số hàng hư hỏng trên có thể khắc phục được thì đây không là sự kiện
bất khả kháng; ngược lại, nếu số hàng hư hỏng trên không khắc phục được thì đây
là sự kiện bất khả kháng.
Câu 4: Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, anh Văn có phải
bồi thường cho anh Bình về việc hàng bị hư hỏng không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả
lời.
Căn cứ vào Khoản 3, Điều 546,
BLDS 2005 về Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại:
“3. Trong trường hợp bất khả kháng dẫn đến
tài sản vận chuyển bị mất mát, hư hỏng hoặc bị huỷ hoại trong quá trình vận
chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ
trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Theo quy định trên, nếu giữa
anh Văn và anh Bình không có thoả thuận về việc bồi thường do sự kiện bất khả
kháng thì anh Văn không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho anh Bình về việc
hàng bị hư hỏng.
Nếu giữa anh Văn và anh Bình
có thoả thuận về việc bồi thường do sự kiện bất khả kháng thì anh Văn có phải bồi
thường cho anh Bình về việc hàng bị hư hỏng hay không phụ thuộc vào thoả thuận
của hai bên.
Câu 5: Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng và anh Văn thỏa
thuận bồi thường cho anh Bình giá trị hàng bị hư hỏng thì anh Văn có được yêu cầu
Công ty bảo hiểm thanh toán khoản tiền này không? Tìm câu trả lời nhìn từ góc độ
văn bản và thực tiễn xét xử.
- Căn cứ vào Điều 580, BLDS 2005 về Bảo hiểm
trách nhiệm dân sự:
“1. Trong trường hợp bảo hiểm trách nhiệm
dân sự đối với người thứ ba theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật
thì bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm hoặc cho người
thứ ba theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm đối với thiệt hại mà bên mua bảo
hiểm đã gây ra cho người thứ ba theo mức bảo hiểm đã thoả thuận hoặc theo
quy định của pháp luật”.
Theo quy định này, nếu hàng bị hư hỏng do sự
kiện bất khả kháng và anh Văn thỏa thuận bồi thường cho anh Bình giá trị hàng bị
hư hỏng thì anh Văn được yêu cầu Công ty bảo hiểm thanh toán khoản tiền này.
- Tuy vậy, thực tiễn xét xử vấn đề này có hai quan
điểm trái ngược nhau. Cụ thể được nêu tại hai bản án:
+ Tại bản án 110/2006/DSPT ngày 5/5/2006 của
Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh:
Anh
Lê Văn Khen nhận chở thuê hàng bằng đường thủy. Anh Khen có mua bảo hiểm
thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho người thứ ba của Công ty Bảo Việt cho
việc vận chuyển bằng tàu của mình. Trên đường vận chuyển, tàu bị gió lốc
nhấn chìm và gây thiệt hại đến tài sản hàng hóa. Trong hợp đồng nhận chuyển
hàng, anh Khen thỏa thuận chịu trách nhiệm trường hợp này và đã bồi thường
cho chủ hàng anh chở thuê số tiền 40.950.000 đồng. Tại bán án này, Tòa án
nhân dân tỉnh Trà Vinh khẳng định việc gây thiệt hại cho các chủ hàng là
do hiện tượng bất khả kháng. Trong vụ tai nạn trên, sau khi sự việc xảy ra anh
Khen có thông báo cho Bảo Việt biết và cung cấp thông tin yêu cầu Công ty Bảo
Việt hoàn lại cho anh số tiền anh đã bồi thường. Nhưng theo Tòa, anh Khen mặc
dù đã nhận được thông tin từ Công ty Bảo Việt nhưng anh Khen tự nguyện bồi thường
(trái với quy định của pháp luật và quy tắc bảo hiểm) nên anh phải tự chịu
trách nhiệm.
+ Tại Quyết định số 105/GĐT-DS ngày 30/5/2003
của Toà dân sự TANDTC:
Ông Khóm nhận chuyển 2.600 con vịt cho ông
Điền và ông Trình bằng tàu của mình. Ông Khóm tham gia bảo hiểm dân sự của
chủ tàu và trong hợp đồng có nêu rõ điều kiện bảo hiểm dân sự của chủ tàu,
thuyền. Theo phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì Bảo Việt nhận trách nhiệm bồi thường
mất mát, hư hỏng hàng hóa, tài sản chuyên chở trên tàu, thuyền được bảo hiểm.
Trên đường vận chuyển, do mưa gió to, nước chảy mạnh, tàu va vào chân cầu
bị chìm làm tổn thất trị giá đến 79.100.000 đồng số tiền vịt. Vì ông Khóm
thỏa thuận trong hợp đồng với ông Trình ông Điền nên đã bồi thường số tiền
trên. Nay ông Khóm yêu cầu Bảo Việt hoàn trả ông số tiền nói trên. Về vụ việc
trên, theo Tòa vì các bên có nêu rõ trong hợp đồng bảo hiểm nói trên và
theo Điều 546 BLDS 2005 vẫn cho phép người vận chuyển và bên thuê vận chuyển
được thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngay cả trong trường hợp
bất khả kháng. Do đó, thỏa thuận giữa ông Khóm và ông Trình, ông Điền là
không trái pháp luật, có hiệu lực và ràng buộc cả Bảo Việt An Giang; Công
ty Bảo Việt phải có trách nhiệm bảo hiểm cho ông Khóm.
Thiết nghĩ, để uy tín trong các quan hệ tương
tự như trên, tốt hơn hết các bên nên nêu rõ trong hợp đồng bảo hiểm là có hay
không bảo hiểm trong trường hợp thiệt hại do sự kiện bất khả kháng.
Tìm ít nhất 01 bản án (quyết định) của Tòa
án liên quan đến chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán mà Toà đã áp dụng BLDS
2015.
Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải
quyết của Tòa án trong bản án (quyết định) liên quan đến chậm thực hiện nghĩa vụ
thanh toán mà anh/chị đã tìm thấy.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CHƯ SÊ ĐỘC
LẬP-TỰ DO-HÀNH PHÚC
TỈNH GIA
LAI
Bản án số: 14/2017/DS-ST
Ngày 28/8/2017.
“V/v tranh chấp hợp đồng dân sự
yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ – TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm
gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Dậu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Hoa
2. Bà Đỗ Thị Giang
- Thư
ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền
- Thư ký Toà án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
-Đại
diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Ngân- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh
Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ
lý số: 29/2017/TLST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2017 về “tranh chấp hợp đồng dân sự yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2017/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2017
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, trú tại: Xóm L, thôn
T 1, xã H, huyện N, tỉnh Bình Định. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Chế Thị Kim Ng, trú tại: Tổ dân
phố x, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai. Vắng
mặt
NỘI DUNG VỤ
ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/4/2017, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên
đơn bà Phạm Thị L trình bày:
Bà và bà Chế Thị Kim Ng có quan
hệ quen biết từ lâu do mua bán tôm
cá với nhau. Đến ngày 25/5/2015 hai bên chốt lại sổ nợ thì bà Ng còn nợ của Bà
số tiền là 34.000.000đ, bà Ng ghi vào sổ nợ của Bà hẹn mỗi tháng sẽ trả cho Bà
5.000.000đ. Ngày 11/10/2015 bà Ng trả cho bà 4.000.000đ, sau đó bà Ng trả tiếp
cho Bà hai lần nữa mỗi lần 5.000.000đ. Tổng cộng bà Ng đã trả cho Bà 14.000.000đ, còn lại 20.000.000đ bà Ng không
trả như đã cam kết mặc dù Bà đã đòi
nhiều lần. Trong đơn khởi kiện Bà yêu cầu
21.000.000đ là do bà tính nhầm. Nay Bà xin rút một phần yêu cầu khởi
kiện đối với 1.000.000đ và yêu cầu
Tòa án buộc bà Ng phải trả cho Bà số tiền nợ còn lại là 20.000.000đ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ
lý, giấy triệu tập, các thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
nhưng bị đơn bà Chế Thị Kim Ng không đến Tòa án làm việc. Do đó, Tòa án không
lấy được ý kiến của bà Ng đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai như
sau :
-Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan và người tiến hành tố tụng: Đảm
bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị L
chấp hành theo giấy triệu tập của tòa án và cung cấp đầy đủ chứng cứ đảm bảo
theo đúng quy định. Bị đơn bà Chế Thị Kim Ng không thực hiện đúng theo giấy
triệu tập của tòa án, không cung cấp chứng cứ gì cho tòa án, điều này thể hiện
bà Nga mặc nhiên từ bỏ quyền và lợi
ích của mình.
-Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 428 và Điều 438 của Bộ
luật Dân sự năm 2005.
Buộc bà Chế Thị Kim Ng phải trả cho bà Phạm Thị L số
tiền là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Buộc bị đơn
phải chị án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA
TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Bà Phạm Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu
Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai giải quyết « tranh chấp hợp đồng dân
sự yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả
tiền » giữa Bà với bà Chế Thị Kim Ng; theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia
Lai. Bị đơn bà Chế Thị Kim Ng đã được
triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý
do. Nên, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung: Theo các giấy viết tay (BL số 10, 11) mà
bà L cung cấp thể hiện: Giữa bà L và bà Ng có quan hệ mua bán hải sản với nhau. Đến ngày
20/5/2015, hai bên chốt công nợ thì bà Ng còn nợ bà L số tiền 34.000.000đ, và
thỏa thuận mỗi tháng trả 5.000.000đ.
Bà Ng đã trả cho bà L 03 lần được tổng số tiền là 14.000.000đ. Sau khi thụ lý
vụ án, Tòa án đã thông báo và triệu tập hợp lệ nhưng bà Ng không đến Tòa án làm
việc nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự bà Nga đã mặc nhiên thừa nhận trình bày của nguyên
đơn. Việc bà Ng không tiếp tục trả nợ cho bà L là đã vi phạm nghĩa vụ cam kết
theo khoản 1 Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó, bà L khởi kiện
yêu cầu Tòa án buộc bà Ng trả số tiền còn nợ 20.000.000đ là có căn cứ.
Trong đơn khởi kiện bà L yêu cầu bà Ng phải trả là 21.000.000đ, tại phiên tòa
bà L cho rằng là do bà tính nhầm nên xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với
số tiền 1.000.000đ, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền trên.
[3]. Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên theo quy định tại
khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Toà án, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm để sung
vào công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 144, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều
266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 428 và Điều 438, của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 357 và
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1.
Buộc bà Chế Thị Kim Ng phải trả cho bà Phạm Thị L số tiền là 20.000.000đ
(Hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được
thi hành án cho đến khi thi hành xong tất
cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền phải thi hành án tương ứng thời gian chưa thi hành án theo quy định
tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi
kiện của bà Phạm Thị L đối với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).
3.
Về án phí: Buộc bị đơn bà Chế Thị Kim Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
là 1.000.000đ (Một triệu đồng) {(20.000.000đ x 5%)} để sung vào công quỹ nhà nước.
Hoàn trả cho bà Phạm Thị L 525.000đ (Năm trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tạm
ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001xxx ngày 26/4/2017 tại Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
4.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
“Trường hợp Bản, Quyết định được thi hành theo quy định
tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều
6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Chư Sê;
- Thi hành án DS huyện Chư Sê;
- Các đương sự;
- Lưu VT, hồ sơ vụ án.
Bùi Thị Dậu
[1] Lê Nết, Giáo trình Pháp
luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức
2016, tr 402.
[2] Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình
luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt
Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai), phần số 273.
[3] Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình
luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt
Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai), tr.372.
[4] Dương Anh Sơn và Lê Thị
Bích Thọ, Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật
Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 1 (26)/2005, tr.26 – 31.
[5] Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng
Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án, Nxb. CTQG 2011, tr. 265.
Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn nào coi mà thấy sai sai hay muốn góp ý thì bình luận ở dưới đây hoặc ib cho mình qua Fb hay insta nha ^^