Dân sự - Hợp đồng - Buổi thảo luận thứ 6
Đóng góp bởi: Linh Hoàng
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG (PHẦN CỤ THỂ)
Câu 1: 1. Khi nào cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do
con chưa thành niên gây ra? Nêu cơ sở pháp lí khi trả lời.
v Đối với tình huống
Câu 2: 2. Tòa án có thể buộc cha mẹ của Hùng bồi thường
cho anh Bình thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm không? Nêu cơ sở pháp lí khi trả
lời.
“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô
ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi
ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân
hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Theo đó, Hùng phải bồi thường cho
anh Bình thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Tuy nhiên, lúc gây thiệt hại Hùng
chỉ mới 16 tuổi và Tòa án đã xác định hiện nay Hùng không có bất kỳ tài sản
nào, theo khoản 2 Điều 606 BLDS 2005:
“Người từ đủ mười lăm tuổi đến
chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình;
nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha,
mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.”
Về việc xác định tài sản để bồi
thường, có thể có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất là xác định tài sản
tài thời điểm có hành vi gây thiệt hại. Quan điểm thứ hai là xác định tài sản tại
thời điểm bồi thường. Giải pháp thứ hai là thuyết phục vì quan trọng là ở thời
điểm giải quyết bồi thường, người liên quan có khả năng bồi thường hay không. Trước thời điểm này (có thể là khi có hành vi gây thiệt hại), người liên quan có thể có đủ tài sản nhưng
tại thời điểm giải quyết bồi thường họ không
có đủ điều kiện bồi thường như trong tình huống trên thì không đem lại lợi
ích cho người được bồi thường. Bên cạnh đó, BLDS quy định “nếu không đủ tài sản để bồi thường”. Dường như tài sản ở đây
là tài sản để bồi thường. Do đó, cần xác định tài sản của người gây thiệt hại tại
thời điểm bồi thường.
Khi giải quyết tình huống trên, tại
thời điểm bồi thường thì Hùng không có tài sản
nên Tòa án có thể buộc cha mẹ của Hùng bồi thường cho anh Bình.
Câu 3: Tòa án có thể buộc
cha mẹ Hùng bồi thường cho anh Bình giá trị chiếc đồng hồ và chiếc xe đạp
không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho biết hướng giải quyết trong thực tiễn
xét xử đối với hoàn cảnh tương tự.
Theo Điều 608 BLDS 2005
quy định về thiệt hại do tài
sản bị xâm phạm: “Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:
1.
Tài sản bị mất;
2.
Tài sản bị huỷ hoại
hoặc bị hư hỏng;
3.
Lợi ích gắn liền
với việc sử dụng, khai thác tài sản;
4.
Chi phí hợp lý để
ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.”
Ở đây, không có “tài sản bị hủy hoặc
bị hư hỏng”, không có việc “lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản” và “chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục
thiệt hại”. Như vậy, nếu có thiệt hại thì có thể đó là thiệt hại do “tài sản bị mất”.
BLDS không định nghĩa khái niệm “tài sản bị mất” nhưng thông thường tài sản bị
mất là tài sản không còn trong phạm vi chiếm hữu, sử dụng của chủ sỡ hữu và việc
này ngoài ý chí của chủ sở hữu.
Trong tình huống này, chiếc xe đạp
hiện đang gửi nhà một người bạn nên khả năng đòi lại tài sản vẫn còn. Vì khả
năng đòi lại tài sản vẫn còn nên chưa thể coi là tài sản này đã bị mất, tức là
chưa có thiệt hại nên chưa có trách nhiệm bồi thường. Còn đối với chiếc đồng hồ,
Hùng đã bán cho người đi đường không rõ họ tên, địa chỉ nên không thu hồi được.
Vì vậy, Tòa án chỉ có thể buộc cha mẹ Hùng bồi thường giá trị chiếc đồng hồ
nhưng không thể buộc cha mẹ Hùng bồi thường giá trị chiếc xe đạp được.
Thực tiễn xét xử như Quyết định số
04/HĐTP-HS ngày 23-3-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng
Thẩm phán hủy quyết định sơ thẩm và phúc thẩm là do “số tài
sản mà bị cáo chiếm đoạt chưa được thu hồi trả cho người bị hại đã được Tòa án các cấp giải
quyết buộc bố mẹ bị cáo phải bồi thường.” Đó là 2 xe máy, 1 đầu video, 4 điện
thoại bàn…, Hùng bán cho Hoàng Văn Phương ở 72 Bà Triệu, thành phố Huế và một số
nơi khác. Như vậy, theo Hội đồng Thẩm phán, cha mẹ không phải bồi thường khi
tài sản này vẫn chưa được tiến hành
thu hồi.
Câu 4: Tòa án có thể buộc
cha mẹ Hùng nộp ngân sách nhà nước khoản tiền 7 triệu đồng mà Hùng có được do lấy
trộm tài sản trong chợ không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho biết hướng
giải quyết trong thực tiễn xét xử đối với hoàn cảnh tương tự.
“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô
ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi
ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân
hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Và khoản 1 Điều
605 BLDS 2005 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại:
“Thiệt hại phải được bồi thường
toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi
thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi
thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Nếu các bên không thỏa thuận được
về hình thức bồi thường thì BLDS không có hướng giải quyết cụ thể. Nộp tiền
sung quỹ Nhà nước là một khoản tiền và bồi thường thiệt hại cũng thường là một
khoản tiền. Tuy nhiên, đây là hai phạm trù
khác nhau. Bởi lẽ, bồi thường thiệt hại là một khoản tiền mà người có
trách nhiệm bồi thường giao cho người bị thiệt hại còn sung quỹ Nhà nước là hoản
cảnh một chủ thể giao một khoản tiền
cho một chủ thể khác là Nhà nước. BLDS chỉ đề cập tới trách nhiệm “bồi thường”
của cha mẹ khi con chưa thành niên
gây thiệt hại nên việc Tòa án buộc cha mẹ có
trách nhiệm nôp tiền sung quỹ Nhà nước là mở rộng phạm vi trách nhiệm của cha mẹ
và việc mở rộng này là không có lí do
thuyết phục. Về nguyên tắc, ai có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì tự
phải chịu bồi thường. Vì vậy, Tòa án không thể buộc cha mẹ Hùng nộp ngân sách nhà nước khoản
tiền 7 triệu đồng mà Hùng có được do lấy trộm tài sản trong chợ.
Trong thực tiễn xét xử, cũng trong
Quyết định số 04/HĐTP-HS đã nêu, theo Hội đồng Thẩm phán: “Tòa án các cấp buộc
bố mẹ bị cáo phải nộp số tiền 7.570.000 đồng do bị cáo chiếm hưởng từ việc bán
tài sản trộm cắp được là không đúng quy định của pháp luật dân sự”. Việc Tòa án
các cấp “mở rộng” việc nộp tiền sung quỹ như vậy đã làm biến dạng quy định của
pháp luật.
5. Tòa án có thể buộc Hùng và cha mẹ cùng bồi thường cho anh Bình không?
Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho biết hướng giải quyết trong thực tiễn xét
xử.
Khoản 2 Điều 606 BLDS 2005 về năng lực
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân:
“Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ
mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu
không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng
tài sản của mình.”
Nếu Tòa án đã xác định Hùng không có
bất kỳ tài sản nào để bồi thường thì cha mẹ Hùng phải bồi thường phần còn thiếu
cũng tức là toàn bộ thiệt hại. Vì vậy, Tòa án không thể buộc Hùng và cha mẹ
“cùng” bồi thường cho anh Bình
Theo thực tiễn xét xử, khi xem xét
trách nhiệm của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra, những
quy định của BLDS quy định về trách nhiệm bồi thường hoặc của người con, hoặc của
cha mẹ và điều này phụ thuộc vào tuổi cũng như tài sản để bồi thường. Điều đó
có nghĩa là khi cha mẹ chịu trách nhiệm và Tòa án không thể buộc con và cha mẹ
“cùng” bồi thường. Đây là quan điểm của Hội đồng thẩm phán trong Quyết định số
24/2006/HS-GĐT ngày 1-8-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
v Đối với Bản án số 19
6. Theo
Tòa án, cha mẹ ly hôn có ảnh hưởng tới việc xác định người phải chịu trách nhiệm
bồi thường không? Cuối cùng, Tòa án đã buộc ai phải bồi thường thiệt hại.
Theo Tòa án, cha mẹ ly hôn không ảnh
hưởng tới việc xác định người phải chịu trách nhiệm bồi thường. Cụ thể, tại đoạn
2 trong phần Xét thấy: “Bà Thêm cho rằng bà và ông Thụ đã ly hôn, Tòa án đã
giao cháu Hậu cho ông Thụ trực tiếp nuôi dưỡng nên bà không trách nhiệm về hành
vi của cháu Hậu, lập luận của bà Thêm là không được chấp nhận vì việc ly hôn giữa
hai vợ chồng không làm chấm dứt nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung.”
Cuối cùng, Tòa án đã buộc bà Thêm và
ông Thụ phải bồi thường thiệt hại. Cụ thể, trong phần Xét thấy trang 4 của bản
án: “buộc ông Mai Văn Thụ và bà Nguyễn Thị Thêm có nghĩa vụ liên đới bồi thường
thiệt hại về sức khỏe cho bà Nam là 42.877.000đ, chia theo phần ông Thụ và bà
Thêm mỗi người phải bồi thường là 21.438.500đ, bà Thêm đã bồi thường 3.000.000đ
nên bà Thêm còn phải bồi thường số tiền là 18.438.500đ.”
7. Suy
nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án (từ góc độ văn bản cũng
như so sánh pháp luật).
Pháp luật dân sự hiện nay không nhắc
đến việc phát sinh trách nhiệm bồi thường của cha mẹ với điều kiện là con phải
sống cùng cha mẹ. Do vậy, cha mẹ phải bồi thường ngay cả khi con không ở hay sống
cùng cha mẹ trên cơ cở Điều 606. Hướng giải quyết trên của Tòa án là hoàn toàn
phù hợp với pháp luật hiện nay.
Ở Pháp, BLDS ban hành năm 1804 cũng
đưa thêm điều kiện để quy trách nhiệm của cha mẹ là con “chung sống cùng cha mẹ”.
Tuy nhiên, điều kiện này thường được án lệ Pháp xem nhẹ. Tức là Tòa án vẫn buộc
cha mẹ bồi thường mặc dù con chưa thành niên gây thiệt hại đang được giao cho
ông, bà, quản lý, chăm sóc.
Vấn đề 2: Xác định thiệt hại vật chất được bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm
Câu 1: Vì sao đã có quy định của Điều 584 mà
BLDS còn có thêm quy định của Điều 600?
Câu 2: Đoạn nào của bản án
cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do người làm
công gây ra.
Đoạn của bản án trên cho thấy
Tòa án đã chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí vé máy bay và thuê ô tô với tư
cách là chi phí hợp lí cho việc mai táng:
“Hội đồng xét xử xét thấy, chi
phí hợp lý cho việc mai táng anh Quyên gồm: Chi phí vé máy bay 5.175.000đ, tiền
thuê ô tô từ sân bay đến bệnh viện 500.000đ, tiền thuê xe ô tô chở thi hài anh
Quyên về quê 22.000.000đ, tiền bồi dưỡng lái xe 600.000đ, tiền chi phí trên đường
đưa thi hài anh Quyên về quê là 2.000.000đ; tiền thuê lều bạt, bàn ghế
3.000.000đ; tiền đất, công đào huyệt 2.500.000đ, tiền xe chở người bị hại đi
mai táng 1.500.000đ, tổng cộng 37.275.000đ”
Câu 3: Nghị quyết 03 của
HĐTP có quy định chi phí hợp lí đi lại dự tang lễ được bồi thường không? Nêu rõ
cơ sở pháp lí khi trả lời.
Nghị quyết
03 của HĐTP không có quy định chi phí hợp lí đi lại dự tang lễ được bồi thường.
Căn cứ vào Mục
4, Phần I về Chi phí hợp lí:
“Các khoản
chi phí hợp lý quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 609, các điểm b và c
khoản 1 Điều 610 và điểm a khoản 1 Điều 611 BLDS là chi phí thực tế cần thiết,
phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng
địa phương tại thời điểm chi phí”.
Điểm b và c, Khoản 1, Điều 610, BLDS 2005 về
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
“1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người
bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng”.
Theo đó, nghị
quyết 03 không quy định chi tiết chi phí đi lại dự tang lễ được bồi thường mà
chỉ quy định các khoản chi phí hợp lí cho việc mai táng theo trường hợp tại Điểm
b và c, Khoản 1, Điều 610, BLDS 2005 là chi phí thực tế cần thiết và cần được bồi
thường.
Câu 4: Trong vụ việc trên
Tòa án có cho biết ai bỏ ra chi phí máy bay và thuê ô tô trên không?
Trong vụ việc trên Tòa án không
cho biết ai bỏ ra chi phí máy bay và thuê ô tô.
Tuy nhiên, Tòa án đã gián tiếp khẳng định rằng chị Đỗ Thị Bảy là người bỏ
ra chi phí máy bay và thuê xe ô tô vì đây là một trong những khoản được tính
trong chi phí mai táng.
Trong bản án có đoạn: “Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Phạm Văn Uyên yêu cầu
các bị cáo bồi thường cho chị Đỗ Thị Bảy là người đại diện người bị hại toàn bộ
chi phí mai táng là 73.700.000đ.”
Câu 5: Căn cứ vào thực tiễn
xét xử, cách giải quyết trên có thuyết phục không? Vì sao?
Căn cứ và thực
tiễn xét xử cách giải quyết trên là thuyết phục.
Thực tiễn từ
Bản án số 331/2012 hình sự phúc thẩm ngày 27 tháng 9 năm 2012 của tòa phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng:
Việt thường xuyên gây chuyện với Hai, tối
12/10/2011 việt cầm dao tìm hai để gây chuyện đánh nhau nên Việt đã bị Huy (anh
ruột Hai) dùng roi đện dí vào người, Hai dùng kiếm chém. Hậu quả việt bị tử
vong. Tòa án buộc bị cáo Huy và Hai phải liên đới bồi thường chi phí cấp cứu,
mai táng 62760000đ cho gia đình người bị hại, người đại diện nhận là ông Hào.
Theo đó, hướng
giải quyết của tòa án là yêu cầu buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường chi
phí cấp cứu mai táng cho gia đình người bị hại. Chi phí này là chi phí thực tế
cần thiết phù hợp với tính chất mức độ thiệt hại.
-
Nếu đó
là chi phí mà cháu nạn nhân bỏ ra để dự tang lễ thì cũng không được bồi thường.
-
Căn cứ
vào Khoản 2, Điều 591, BLDS 2015:
“2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người
khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này
và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân
thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những
người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực
tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường
bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được
thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức
lương cơ sở do Nhà nước quy định.”.
-
Và Điểm a, Khoản 1, Điều 651, BLDS 2015 về Người thừa kế theo
pháp luật
“1. Những
người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa
kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi
của người chết;”
Ø Như vậy, cháu của
anh Quyên (người bị thiệt hại) không phải là hàng thừa kế thứ nhất của anh
Quyên nên theo nội dung tại Khoản 2, Điều 610 thì cháu bị hại không được bồi
thường chi phí để đi dự tang lễ.
-
Căn cứ vào tiểu mục 2.1 và 2.2 phần II NQ 03/2006/NQ-HĐTP:
“2.1.
Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước
khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu
nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng
dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.
2.2. Chi phí hợp
lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết
cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi
khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không
chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...”
Ø Xét thấy nội dung
quy định tại NQ 03/2006/NQ-HĐTP về việc xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm
phạm thì không xác định chi phí đi lại để dự lễ tang của người thân người bị
thiệt hại cũng là thiệt hại. Vậy nên, chi phí này không được xem xét để bồi thường.
Ý kiến khác: Căn cứ
vào thực tiễn xét xử, cách giải quyết trên là chưa phù hợp.
Trong một bản án, cụ
thể là QĐ số 20 HĐTP-HS ngày 24-12-2002 của HĐTPTANDTC trong phần xét thấy có
nêu: “Theo Đ.614 BLDS quy định thì chi phí hợp lý cho việc mai tang được chấp
nhận, do đó chi phí cho việc dự lễ tang cần được xem xét nhưng chỉ chấp nhận đến
với những người có quan hệ thân thích gần gũi với nạn nhân như cha mẹ, vợ chồng,
anh chị em ruột, con đẻ đi bằng phương tiện máy bay để kịp dự lễ tang”
Câu 6: Trong hai vụ việc
trên, Toà án đã buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho ai và
không buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho ai? Đoạn nào của bản
án cho câu trả lời?
1. Bản án số 60/2009/HSST TAND tỉnh Đồng Nai
- Đoạn của bản án cho thấy:
“Về trợ cấp nuôi con, mỗi tháng, mỗi bị hại phải trợ cấp:
Nuôi cháu Phạm Thị Thu Trang cho chị Nguyễn Thị Lương số tiền 108.500đ
(Một trăm lẻ tám ngàn năm trăm đồng) (Ông Phạm Văn Y nhận thay chị Lương).
Nuôi hai cháu Phạm Thị Thu Trang và Phạm Quỳnh Nga mỗi cháu số tiền là
800.000đ (Một trăm lẻ tám ngàn năm trăm đồng)”.
2. Bản án số 26/2017/HSST TAND tỉnh Vĩnh Phúc
- Tòa án đã buộc người gây thiệt hại phải bồi thường tiền cấp dưỡng cho
con của anh Chu Văn D là Chu Đức P.
- Toà án không buộc người gây thiệt hại phải bồi thường tiền cấp dưỡng
cho bố mẹ của anh Chu Văn D do pháp luật không quy định.
- Đoạn của bản án cho thấy:
“Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải thực
hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Chu Đức P, sinh ngày 30/12/1999 là con chưa
thành niên của người bị hại Chu Văn D số tiền 605.000đ/tháng. Thời điểm cấp dưỡng
kể từ tháng 10 năm 2016 cho đến khi Chu Đức P đủ 18 tuổi.”
Và “Đối với khoản tiền gia đình người
bị hại Chu Văn D yêu cầu là tiềnn uôi dưỡng bố mẹ người bị hại về già do pháp
luật không quy định nên không được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.”
Câu 8: Suy nghĩ của anh về hướng giải
quyết trên của Toà án liên quan đến người được bồi thường tiền cấp dưỡng?
-
Hướng
giải quyết của Toà án yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thưỡng tiền cấp dưỡng
cho con của các nạn nhân trong bản số 26 và 60 là hợp lý và phù hợp với qui định
của pháp luật (Điểm b tiểu mục 2.3 phần II Nghị Quyết 03/2006/NQ-HĐTP).
“- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng
không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người
bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;”
-
Về
việc Toà không xem xét, giải quyết yêu cầu Nguyễn Văn A bồi thường tiền cấp dưỡng
cho cha mẹ của anh Chu Văn D vì lý do “pháp luật không quy định” là chưa hợp
lý. Toà cẩn phải xem xét bố mẹ anh Chu Văn D có còn khả năng lao động, còn tài
sản để tự nuôi mình hay không?
· Về đối tượng được bồi thường khoản tiền
cấp dưỡng được quy định tại Điểm tiểu mục 2.3 phần II Nghị Quyết
03/2006/NQ-HĐTP có quy định về trách nhiệm cấp dưỡng với cha mẹ của người bị
thiệt hại
“- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự
nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;”
· Trong trường hợp này, Toà phải viện dẫn
luật và lập luật rằng Nguyễn Văn D do đang ở tù nên không thể thực hiện nghĩa vụ
cấp dưỡng với cha mẹ mình nên có thể thấy cha mẹ của D vẫn có tài sản để nuôi bản
thân mình từ một nguồn khác, như vậy mới phù hợp.
Câu 9: Trong bản án số 26, Toà án
theo hướng cấp dưỡng một lần hay nhiều lần?
Trong bản án số 26, Toà án theo hướng
cấp dưỡng nhiều lần.
Đoạn của bản án cho thấy:” Gia đình của người bị hại yêu cầu cấp dưỡng một lần, bị cáo không đồng ý và có đề nghị giải quyết theo quy định của PL. Do vậy Hội đồng xét xử cần buộc bị cáo cấp dưỡng hang tháng là phù hợp với quy định của pháp luật.”
Đoạn của bản án cho thấy:” Gia đình của người bị hại yêu cầu cấp dưỡng một lần, bị cáo không đồng ý và có đề nghị giải quyết theo quy định của PL. Do vậy Hội đồng xét xử cần buộc bị cáo cấp dưỡng hang tháng là phù hợp với quy định của pháp luật.”
Câu 10: Suy nghĩ của anh về hướng giải
quyết nêu trên của Toà án liên quan đến cách thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Việc buộc các bị cáo phải cấp dưỡng
hàng tháng là hợp lý.
Đầu tiên, việc bất buộc là đúng với
tính chất trách nhei65m dân sự mà bị cáo phải bồi thường khi xâm phạm đến tính
mạng người khác.
Thứ hai, việc bắt buộc cấp dưỡng hang
tháng không những đúng với quy định của PL mà còn phần nào tạo điều kiện cho bị
cáo có thể hoàn thành nghĩa vụ dân sự một cách thuận lợi hơn, nếu bồi thường một
lần thì gia đình bị cáo sẽ không thể chuẩn bị một số tiền lớn để hoàn thành
nghĩa vụ cấp dưỡng. Như vậy đây là hướng giải quyết hợp lý, giúp người gây thiệt
hại có khả năng bồi thường đồng thời cũng không ảnh hưởng quá nhiều đến lợi ích
của người được bồi thường.
Vấn đề 3: Giảm mức bồi thường thiệt hại do hoàn cảnh kinh tế
Câu 1: Những thay đổi giữa BDLS 2015 và BLDS
2005 liên quan đến chủ đề đang được nghiên cứu.
Người chịu trách nhiệm BTTH có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và
thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
Như vậy người không có lỗi nhưng phải
chịu trách nhiệm bồi thường cũng có quyền yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại.
Khoản 2, Điều 585, BLDS 2015 về
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại:
“2. Người gây thiệt hại có thể được
giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng
kinh tế trước mắt và lâu dài của mình”.
Để được giảm mức bồi thường thiệt hại
cần có bốn điều kiện sau:
- Người gây thiệt hại có lỗi vô ý, tức
là người gây thiệt hại không lường trước được hành vi của mình sẽ gây ra thiệt
hại cho chủ thể khác.
- Người không có lỗi nhưng phải chịu
trách nhiệm bồi thường như trường hợp người giám hộ của người chưa thành niên,
chủ sở hữu của nguồn nguy hiểm cao độ, …
- Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả
năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây ra thiệt hại. Điều này có nghĩa
là xét tại thời điểm bồi thường cũng như trong tương lai thì người gây ra thiệt
hại không có đủ khả năng kinh tế để bồi thường phần lớn hay toàn bộ thiệt hại
mà mình gây ra.
- Phải có yêu cầu từ phía người gây
thiệt hại
Đoạn của bán án cho thấy Tòa án giảm
mức bồi thường cho bà Lan là:
“...Trong trường hợp này việc xảy ra
cháy nhà và gây thiệt hại cho ông Mạnh là do lỗi của bà Lan để cho hệ thống điện
quá cũ kỹ gây nên chập điện, cháy nhà và thời điểm phát cháy bà đã nhờ người
làm trông coi mà không có sự cảnh giác cao độ, tuy nhiên đây chỉ là lỗi vô ý và
hoàn cảnh kinh tế hiện nay của bà Lan rất khó khăn, nợ nần, bệnh tật, tuổi cao,
nuôi con bệnh tâm thần và mức bồi thường trên là quá cao so với khả năng kinh tế
của bà Lan nên cần xem xét giảm mức bồi thường cho bà 20% là phù hợp, nghĩ nên
chấp nhận”.
Câu 4: Mức bồi thường được giảm bao
nhiêu? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
- Mức bồi thường được giảm là 145.200.200đ xuống còn 76.160.000đ.
- Đoạn của bản án cho câu trả lời:
“...mức bồi thường trên là quá cao so với khả năng kinh tế của bà Lan
nên cần xem xét giảm mức bồi thường cho bà 20% là phù hợp, nghĩ nên buộc bà Lan
bồi thường cho ông Mạnh 80% mức thiệt hại nêu trên, tức là 76.160.000 đồng. Đồng
thời cần buộc bà Lan bồi thường chi phí mắc điện mới của ông Mạnh theo liệt kê
là 310.364 đồng là phù hợp”.
Câu 5: Suy nghĩ của anh/ chị về việc
Tòa án quyết định giảm mức bồi thường cho bà Lan (đánh giá từng điều kiện nêu
trong BLDS để giảm mức bồi thường).
Việc Tòa án quyết định giảm mức bồi thường cho bà Lan là phù hợp với quy
định của BLDS năm 2005, bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong
vụ việc.
Căn cứ vào Khoản 2, Điều 585, BLDS 2015 quy định Về Nguyên tắc bồi thường
thiệt hại:
“2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý
mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của
mình”.
Trong vụ việc của bà Lan, điện chập làm cháy khu trọ của bà đồng thời
lan sang nhà ông Mạnh làm tài sản bị thiêu rụi toàn bộ, ngoại trừ hai chiếc xe
máy. Tòa án theo hướng giải quyết buộc bà Lan bồi thường cho ông Mạnh. Bên cạnh
đó, Tòa cũng xem xét giảm mức bồi thường của bà Lan cho ông Mạnh dựa trên những
căn cứ sau:
- Xét trên phương diện lỗi: Điểm b, Tiểu mục 1.4, Mục 1, Phần II, của
Nghị Quyết số 03/NQ-HĐTP quy định:
“b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp
một người nhận thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải
biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của
mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc
có thể ngăn chặn được”.
Đối với việc gây thiệt hại, bà Lan là người có lỗi vô ý, hệ thống điện
đã cũ kĩ, thời điểm điện chập phát cháy bà không hề biết và nhờ người làm thuê
trông coi mà không có cảnh giác cao độ.
Trường hợp này bà Lan phải biết hoặc có thể biết trước việc điện chập do
quá cũ nhưng cho rằng nó không xảy ra. Lúc này bà cũng không có mặt tại dãy trọ
đang quản lí nên việc Tòa xem xét dựa vào điều kiện này khẳng định lỗi vô ý và
giảm bồi thường là hợp lí.
- Xét về điều kiện thứ hai, qua lời khai của bà Lan cũng như thực tế cho
thấy hoàn cảnh kinh tế bà Lan rất khó khăn: bệnh tật, nuôi con bị bệnh tâm thần,
tuổi cao không còn khả năng lao động…mức bồi thường như ông Mạnh yêu cầu vượt
quá khả năng kinh tế của bà.
Vì vậy, xét theo Khoản 3, Điều 585 của BLDS 2015, Tòa án quyết định giảm
mức bồi thường cho bà Lan là hợp lí
Câu 1: Trong phần “trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng” của BLDS, trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt
hại phát sinh trong những trường hợp nào?
Theo quy định tại Điều 587, BLDS 2015 về Bồi thường thiệt
hại do nhiều người cùng gây ra:
“Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những
người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường
của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi
người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo
phần bằng nhau”.
Như vậy, theo BLDS thì trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường
thiệt hại phát sinh trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại. Cụ thể:
- Thứ nhất, cùng cố ý gây ra thiệt hại,
tức là có cùng ý chí, cùng nhau thực hiện một hành vi hoặc là những người này
không cùng ý chí nhưng đều có thể nhận thức được hành vi đó là trái pháp luật,
có thể gây ra thiệt hại nhưng vẫn thực hiện hành vi đó. Trường hợp này, nếu người
bị gây ra thiệt hại không có lỗi thì đương nhiên những người gây ra thiệt hại
phải bồi thường, còn trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi thì sẽ bồi
thường thiệt hại theo quy định tại Điều 617, BLDS 2005.
- Thứ hai, cùng vô ý gây ra thiệt hại,
trường hợp này nếu như người bị thiệt hại cũng có lỗi thì những người gây ra
thiệt hại bồi thường theo quy định tại Điều 587, BLDS 2015, nhưng nếu người gây
ra thiệt hại hoàn toàn không có lỗi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng của những người cùng gây thiệt hại được xác định trong hai trường hợp
liên đới bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ khi chủ sở
hữu để người khác chiếm hữu sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ (Khoản
4, Điều 601, BLDS 2015) và trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của chủ sở
hữu súc vật và người thứ ba khi họ cùng có lỗi để súc vật gây thiệt hại cho người
khác (Khoản 2, Điều 603, BLDS 2015).
- Thứ ba, vừa cố ý vừa vô ý gây ra thiệt hại, trường hợp nay là gộp lại giữa
hai trường hợp trên, hướng giải quyết sẽ tách ra thành từng bên có lỗi vô ý và
có lỗi cố ý để giải quyết.
Câu 2: Trong Bản án số 19, bà khách bị
thiệt thiệt hại trong hoàn cảnh nào? Có xác định được chính xác được nguồi gây
thiệt hại cho bà Khách không?
Bà Khánh bị thiệt hại về tài sản trong lúc anh Hải, chị Tám,
chị Hiền giằng co, xô xát với nhau.
Không xác định được chính xác ai là người gây ra thiệt hại
cho bà Khánh, chỉ biết bà Khánh bị thiệt hại do xô xát giữa chị Tám và chị Hiền
với anh Hải gây ra nên cả ba người phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho
bà Khánh.
Câu 3: Đoạn nào của Bản án số 19 cho thấy
Tòa án đã theo hướng chị Tám, chị Hiền và anh Hải liên đới bồi thường?
Đoạn của Bản án số 19 cho thấy Tòa án đã theo
hướng chị Tám, chị Hiền và anh Hải liên đới bồi thường:
“Về phần thiệt hại tài sản, bà Khánh trước
đây yêu cầu 324.000đ (ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng), nhưng sau đó yêu cầu
800.000đ (tám trăm ngàn đồng) và yêu cầu anh Hải phải bồi thường cho bà toàn bộ
số tiền này. Xét thiệt hại về tài sản của bà Khánh do xô xát giữa chị Tám và chị
Hiền với anh Hải đã dẫn đến là hai chiếc ghế gỗ bị gãy chân và các loại bánh,
trứng tại quán bà Khánh bị đổ, bể…trong quá trình xô xát là có thật. Do vậy, cần
buộc những người này liên đới bồi thường cho bà Khánh, tuy nhiên bà Khánh chỉ
khởi kiện yêu cầu đối với anh Hải, do đó Tòa án chỉ xem xét phần trách nhiệm của
anh Hải, buộc anh Hải phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Khánh bằng
1/3 số tiền bà yêu cầu là 267.000đ (hai trăm sáu mươi bảy ngàn đồng)”.
Hướng giải quyết của Toà án là thuyết phục.
Theo khoản 1 Điều 288 quy định: “Nghĩa vụ liên đới là
nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất
cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”. Mặc
dù trong bản án trên thì chỉ có bà Lan là người thực hiện hành vi (bà Lan đã
đánh vào mặt gây thương tích ở mắt trái làm cho bà Hộ bị loét giác mạc mắt
trái) nhưng ông Bảo cũng có hành vi là đã kêu gọi các con đánh bà Hộ. Trường hợp
của ông Bảo cũng giống như đồng phạm trong Luật hình sự. Mặt khác hướng giải
quyết của Tòa án khá gần gũi với Bộ nguyên tắc Châu Âu vê bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng. Bởi điểm a, khoản 1, Điều 9.101: “Trách nhiệm liên đới phát
sinh khi một người làm nảy sinh hay thúc đẩy hành động xấu của chủ thể khác gây
thiệt hại cho nạn nhân”. Như vậy việc Tòa giải quyết theo hướng buộc ông Bảo
phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho bà Hộ là đúng, đảo bảm được
quyền lợi cho bà Hộ.
Trong quyết định số 226, bà Nguyễn Huệ Lan là người trực tiếp
gây thiệt hại cho bà Hộ.
Đoạn trong quyết định cho thấy:
“Hành vi trực tiếp gây ra thương tích cho bà Hộ là Nguyễn Huệ
Lan…”.
Trong quyết định số 226, ông Trần Thúc Bảo là
người phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà Hộ.
Đoạn trong quyết định cho thấy:
“… song cũng cần phải xem xét trách nhiệm dân sự của người khởi
xướng trong vụ án cố ý gây thương tích là ông Trần Thúc Bảo, người đã kêu các
con đánh bà Hộ, việc bà Hộ bị thương tích dẫn đến hỏng mắt có quan hệ nhân quả
của ông Bảo. Do đó cần buộc ông Bảo phải chịu trách nhiệm dân sự cùng với Nguyễn
Huệ Lan”.
Hướng giải quyết trong Quyết định 226 đã có
tiền lệ.
Theo Quyết định số 114/2006/DS-GĐT ngày
26-5-2006 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao:
Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ
sở kết luận ông An là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê con cháu cùng gây thương
tích cho Hiền. Tại đơn khởi kiện, anh Hiền yêu cầu ông An phải bồi thường thiệt
hại, do đó theo quy định của Bộ luật Dân sự thì ông An là người có lỗi cố ý
cùng gây thiệt hại nên phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Hiền. Anh
Hiền có thể khởi kiện yêu cầu một trong những người cùng gây thiệt hại phải bồi
thường. Cùng tham gia gây thương tích cho anh Hiền còn có anh Bằng (con trai
ông An), sau khi gây thương tích cho anh Bằng anh An đã bị chết nên anh Hiền chỉ
khởi kiện ông An bồi thường. Vì vậy, căn cứ vào đơn khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm
xác định ông An là bị đơn dân sự là đúng[1].
Hướng giải quyết trên của Tòa án là phù hợp.
Trong tình huống trên mặc dù bà Nguyễn Huệ Lan là người trực
tiếp gây ra thương tích cho bà Hộ, tuy nhiên cũng cần chú ý đến người khởi xướng
trong vụ án này là ông Trần Quốc Bảo. Ông Bảo đã có hành vi kêu các con đánh bà
Hộ và gây thương tích cho bà Hộ. Do đó, ông Bảo đã gián tiếp và có lỗi trong việc
gây ra thương tích cho bà Hộ. Việc Toà giám đốc thẩm xác định ông Bảo phải chịu
trách nhiệm liên đới bồi thường với bà Lan cho bà Hộ là thoả đáng.
Và theo Điều 616 BLDS 2005:
“Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt
hại được xác định tương xứng với mức độ lỗi của mỗi người”.
Ở đây, Tòa án đã xét theo tính chất mức độ phạm tội của từng bị
cáo cũng là mức độ lỗi đối với người bị thiệt hại để xác định số tiền phải
bồi thường cho người bị thiệt hại là hợp lí, không làm ảnh hưởng tới quyền
lợi và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
Trong Bản án số 19, bà Khánh ban đầu yêu cầu 324.000 đồng,
nhưng sau đó yêu cầu 800.000 đồng và yêu cầu anh Hải phải bồi thường.
Đoạn của Bản án cho thấy điều đó:
“Về phần thiệt hại tài sản, bà Khánh trước đây yêu cầu
324.000đ (ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng), nhưng sau đó yêu cầu 800.000đ (tám
trăm ngàn đồng) và yêu cầu anh Hải phải bồi thường cho bà toàn bộ số tiền này”.
Câu 10: Bản án số 19, Tòa án đã yêu cầu anh
Hải bồi thường bao nhiêu?
Bản án số 19, Tòa án đã yêu cầu anh Hải bồi
thường 267.000 đồng.
Đoạn của Bản án cho thấy điều đó:
“Do đó, cần vuộc những ngươì này phải liên đới bồi thường cho
bà Khánh, tuy nhiên nà Khánh chỉ khởi kiện yêu cầu đối với anh Hải, do đó toà
án chỉ xem xét phần trách nhiệm của anh Hải phải bồi thường thiệt hại về tài sản
cho bà Khánh bằng 1/3 số tiền bà yêu cầu là 267.000đ (hai trăm sáu mươi bảy
ngàn đồng)”.
Câu 11: Suy nghĩ của anh về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến anh Hải.
a)
Việc
Tòa án quyết định để anh Hải chỉ bồi thường 1/3 số tiền thiệt hại của bà Khánh
là chưa thực sự thỏa đáng.
Bởi vì theo trong quá trình xô xát có xảy ra lỗi của cả 3 người
là: chị Tám, chị Hiền và anh Hải nên theo Điều 298 và Điều 616, BLDS 2005 thì
trách nhiệm bồi đó thuộc về cả ba người. Nhưng bà chỉ yêu cầu anh Hải thực hiện
trách nhiệm bồi thường, do vậy anh Hải chỉ chịu 1/3 số tiền gây thiệt hại cho
bà Khánh.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp Tòa án cần
xác định trách nhiệm lỗi do ai gây thiệt hại nhiều hơn thì phải bồi thường nhiều
hơn. Không phải mọi lúc ta phải chia phần tách nhiệm theo số người gây ra thiệt
hại cho người bị hại
b)
Việc
Toà án bác toàn bộ yêu cầu của chị Trương Thị Thu Hiền về việc kiện đòi anh Hải
bồi thường do sức khoẻ bị xâm phạm là hợp lý.
Đối với vụ việc của chị Hiền thì các lời khai của các nhân chứng
khác nhau và bà Khánh (người được chị Hiền ủy quyền) không xuất trình được các
tài liệu chứng minh được chính anh Hải là người gây thương tích cho chị Hiền
nên không có cơ sở buộc anh Hải phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về phần
thương tích hiện có của chị Hiền.
[1] Đỗ
Văn Đại, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng - Bản án và bình luận bản
án, Nxb. ĐH QG TP.HCM năm 2014, tr.9.
ban co van ban Quyết định số 114/2006/DS-GĐT khong cho minh xin voi
Trả lờiXóa